CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm về thuế Lịch sử loài người đã chứng minh, thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. Sự xuất hiện thuế trong lịch sử nhân loại gắn liền với nhu cầu chi tiêu của nhà nước, nó thể hiện quyền lực của nhà nước và là cơ sở cho sự hoạt động và phát triển của nhà nước.
Cùng với sự phát triển của loài người là sự phát triển của nhà nước, đi cùng với nó là sự gia tăng quyền lực và nhiệm vụ của nhà nước. Tuy đứng ở mỗi góc độ khác nhau, quan điểm về kinh tế chính trị- xã hội khác nhau thì cũng có cái nhìn về thuế khác nhau. Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh bản chất chung nhất của phạm trù này.
Theo các nhà kinh điển, thuế được quan niệm rất đơn giản. Các Mác đã nói “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho Kho bạc thu được bằng tiền thu được bằng tiền hay sản vật mà người đan phải đóng góp để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước” [5, tr. Anghen đã chỉ rõ:“Để duy trì quyền lực công cộng , cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế…”. Sau này, khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn.
Trong cuốn Từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” [3, tr. 5 Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” [3, tr. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” [3, tr. Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là một hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [3, tr. Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước [3, tr. Mặc dù còn nhiều định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm hạt nhân lý tưởng của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau: 6 Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước.
Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được nhà nước quy định theo mức thu và thời hạn nhất định. Từ những nội dung trên, có thể nêu khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [3, tr. Hệ thống thuế, phân loại thuế, các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế 1. Khái niệm hệ thống thuế Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của nhà nước trong từng thời kỳ [3, tr.
Phân loại thuế Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Tuỳ thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển KT- XH mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau. Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau: - Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào NSNN, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. + Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế [3, tr.
Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực 7 tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp. + Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ [3, tr.
Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động SXKD nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế TTĐB. Sự phân loại thuế thành thuế gián thu và thuế trực thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế.
- Căn cứ vào đối tượng đánh thuế. Theo cách phân loại này thuế được chia thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế GTGT, thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế TTĐB. Thuế đánh vào thu nhập như thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân. Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, lệ phí, phí.
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế. Các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế Sắc thuế là một hình thức cụ thể được quy định bằng một văn bản pháp luật, dưới hình thức luật, pháp lệnh hoặc các chế độ thuế. Trong một văn bản pháp luật về thuế thông thường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây: (1) Tên gọi của sắc thuế 8 Mỗi sắc thuế đều có một tên gọi nhằm phân biệt giữa các hình thức thuế khác nhau, đồng thời phản ánh những tính chất chung nhất của hình thức thuế đó. Trong nhiều trường hợp, tên gọi của sắc thuế đã hàm chứa nội dung, mục đích và phạm vi điều chỉnh của sắc thuế đó.
Chẳng hạn, “thuế thu nhập cá nhân” là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân; “thuế giá trị gia tăng” đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá và dịch sau mỗi chu kỳ luân chuyển hàng hoá và dịch vụ qua từng giai đoạn. (2) Đối tượng nộp thuế Trong một luật thuế thường quy định rõ ai phải nộp thuế và người đó được gọi là đối tượng nộp thuế. Đối tượng nộp thuế có thể là thể nhân hoặc pháp nhân mà được luật pháp xác định có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước và gọi là người nộp thuế. Do tồn tại cơ chế chuyển dịch gánh nặng của thuế nên người nộp thuế không đồng nhất với người chịu thuế tức là người chịu gánh nặng của thuế.
Mỗi một luật thuế có một đối tượng chịu thuế riêng, chẳng hạn đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá và dịch vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước; Đối tượng chịu thuế TTĐB là hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng có tính chất đặc biệt; Đối tượng chịu thuế TNDN là thu nhập từ hoạt động kinh doanh; Đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân là thu nhập của các cá nhân. (4) Cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế là một bộ phận của đối tượng chịu thuế được xác định làm căn cứ tính thuế. Do đối tượng chịu thuế là thu nhập, hàng hoá hay tài sản, do đó cơ sở tính thuế chính là thu nhập chịu thuế, giá trị của hàng hoá hoặc giá trị của tài sản. Tuy nhiên, đối tượng chịu thuế thường rộng hơn cơ sở tính thuế, bởi vì tồn tại mức tối thiểu không phải nộp thuế, miễn giảm thuế.
Một cơ sở thuế, sau khi tính và nộp một loại thuế tương ứng có thể trở thành cơ sở của một loại thuế khác. 9 (5) Mức thuế Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước so với cơ sở tính thuế và được thể hiện dưới hình thức thuế suất hay định suất thuế.