CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH N G H IỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Khi định nghĩa về DNNVV, mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức khác nhau nhưng nói chung hầu hết các quốc gia đều căn cứ vào quy mô về vốn, số lao động, tổng doanh thu, tổng tài sản của doanh nghiệp. Khái niệm DNNVV tuy có mặt ở rất nhiều nền kinh tế trên thế giới, nhưng lại không có một điểm chung thống nhất giữa các quốc gia thế nào là một DNNVV, điều này thể hiện sự khác nhau giữa các điều kiện hoàn cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế xã hội giữa các quốc gia, đồng thời thể hiện sự khác nhau trong các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các DNNVV giữa các quốc gia.
Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB): Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Theo quan niệm Việt Nam: Tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về trợ giúp phát triển DNNVV, xác định DNNVV là “doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.
Tiêu chí phân loại DNNVV Ở Việt Nam, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ các tiêu chí phân loại DNNVV như sau: [6,2] - Trong thương mại, dịch vụ: DN vừa là DN có tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc số lao động từ trên 50 người đến 100 người. DN nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động từ trên 10 người đến 50 người. DN siêu nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động 10 người trở xuống. - Trong công nghiệp và xây dựng: DN vừa là DN có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc số lao động từ trên 200 người đến 300 người.
DN nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động từ trên 10 người đến 200 người. DN siêu nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động 10 người trở xuống. - Trong nông lâm nghiệp và thủy sản: DN vừa là DN có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc số lao động từ trên 200 người đến 300 người. DN nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động từ trên 10 người đến 200 người.
DN siêu nhỏ là DN có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc số lao động 10 người trở xuống. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Xuất phát từ định nghĩa như trên, kết hợp với những nhân tố khác của Việt Nam về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như những xuất phát điểm khá thấp của nền kinh tế Việt Nam. Những DNNVV tại Việt Nam có những đặc điểm như sau: 1. Đặc điểm về hoạt động DNNVV có tính năng động, linh hoạt với sự biến động nhu cầu của thị trường: Quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNNVV dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn 9 hóa.
Mặt khác, DNNVV có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường. Hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vững chắc, thiếu liên kết và dễ bị tác động bởi những biến động vĩ mô: Với ưu thế linh hoạt, cơ cấu ngành nghề đa dạng, đáp ứng được nhiều nhu cầu của thị trường nhưng do khả năng tài chính hạn chế, DNNVV dễ bị tác động của môi trường vĩ mô trên thị trường, như tình trạng suy thoái, lạm phát, giá dầu mỏ tăng cao,.trong nền kinh tế dễ gây cho các DNNVV rơi vào tình trạng bế tắc, phá sản. DNNVV sử dụng công nghệ thủ công và lạc hậu: Công nghệ lạc hậu chiếm tỷ trọng rất lớn là đặc điểm khác biệt của các DNNVV ở Việt Nam so với các DNNVV ở các nước công nghiệp phát triển. Mặc khác, tốc độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở nước ta rất chậm.
Đặc điểm về tổ chức, quản lý Doanh nghiệp nhỏ và vừa được tạo lập dễ dàng, quản lý theo quy mô hộ gia đình: Để thành lập một doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu, mặt bằng sản xuất, quy mô nhà xưởng không lớn. Các DNNVV rất linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác động lên. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khó thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi: Với quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, tài chính hạn chế và sản phẩm tiêu thụ không nhiều, DNNVV khó có thể trả lương cao cho người lao động, đặc biệt là tìm kiếm nhân tài để phục vụ cho công tác điều hành, quản lý. Trình độ quản lý thấp dẫn đến hạn chế trong tiếp cận thông tin, tiếp cận thị trường: DNNVV thường gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến.
Do đó, trình độ quản lý của đội ngũ điều hành trong các DNNVV cũng bị hạn chế. Do đó, các DNNVV thường chỉ quan tâm đến thị trường truyền thống và những khách 10 hàng thường xuyên của mình, không quan tâm đến việc củng cố và mở rộng những thị trường mới. Văn hóa trong các DNNVV chưa được chú trọng: các DNNVV Việt Nam hiện nay chưa chú trọng về các giá trị văn hóa như: Chuẩn mực đạo đức, triết lý kinh doanh, hành vi, ý tưởng kinh doanh và phương thức quản lý, chủ yếu là do người đứng đầu các DNNVV tự đặt ra. Hơn nữa trong các DNNVV do số lượng nhân công và quy mô còn khá nhỏ nên hầu như vấn đề này ít được chú trọng, thậm trí không cần thiết đối với người quản lý doanh nghiệp.
Đặc điểm về tài chính Quy mô vốn thấp là nguyên nhân của những bất lợi trong hoạt động: Về quy mô doanh nghiệp không lớn, khả năng tài chính hạn hẹp, DNNVV ít được hưởng các khoản chiết khấu giảm giá do mua hàng hóa với số lượng ít. Trong trường hợp cần phải nhập các linh kiện của nước ngoài, DNNVV thường thiếu ngoại tệ và không mua được trực tiếp thường phải thông qua nhà phân phối độc quyền trong nước nên giá cả bị đắt hơn. Bên cạnh đó, khả năng tài chính hạn hẹp nên DNNVV khó có thể dành ra một khoản tiền đủ lớn để thực hiện chiến lược quảng bá cho thương hiêu cũng như cho sản phẩm, và do đó khó có khả năng vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Quy mô vốn thấp cũng gây ra những bất lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng: Vốn chủ sở hữu ít, do đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn vay thấp nên khả năng vay vốn của doanh nghiệp cũng rất hạn chế.
Các DNNVV thường thiếu tài sản thế chấp cho khoản tiền dự định vay. Ngay ở những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản., các ngân hàng cũng e ngại khi cho các DNNVV vay vốn vì khả năng gặp rủi ro rất lớn khi cho vay. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển nền kinh tế DNNVV đang góp phần làm năng động nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, và bước vào thời kỳ hội nhập của nền kinh tế quốc tế hiện nay, các DNNVV có vai trò quan trọng đối với sự tăng 11 trưởng của nền kinh tế, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội ở cả thành thị và nông thôn, trên khắp các vùng, miền của đất nước, phát huy các nguồn nội lực đa dạng, tài năng kinh doanh, tiền vốn, tài nguyên, lao động.
tận dụng mọi cơ hội để phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Những vai trò quan trọng của DNNVV được tổng hợp cụ thể như sau: Tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP): Tốc độ tăng trưởng GDP của các DNNVV là tăng ổn định và đều đặn Theo các nhà phân tích kinh tế thì con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều, bởi vì trong thực tế, rất nhiều DNNVV ngoài nhà nước đã không trực tiếp đứng tên trong một số hoạt động giao dịch, họ chỉ xuất ủy thác cho doanh nghiệp Nhà nước hoặc thực hiện các kênh khác của quy trình sản xuất.
Đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế: Đóng góp vào ngân sách Nhà nước của các DNNVV ngày càng tăng. Ngoài ra, các DNNVV ngoài quốc doanh và quốc doanh còn có sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, cơ sở hạ tầng như trường học, thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa, nhà tình thương và các công trình phúc lợi khác ở tất cả các địa phương trong cả nước. Gia tăng giá trị xuất khẩu: Với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kết hợp với thị trường mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa.