CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Kinh tế và quản lý Nhà nước về kinh tế. Khái niệm về kinh tế Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn. Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội.
Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Nghĩa rộng của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm. Khái niệm về quản lý kinh tế Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân (hoặc viết tắt là quản lý Nhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu pháp triển kinh tế đất nước đã đạt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Quản lý kinh tế là nội dung cốt nõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội.
Quản lý Nhà nước về kinh tế 1. Quản lý nhà nước - Là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước để nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước; - Là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước, bao gồm: lập pháp, hành pháp và tư pháp, để thực thi quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Quản lý Nhà nước về kinh tế 1. Khái niệm 7 Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Theo nghĩa rộng; quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ). Theo nghĩa này; quản lý Nhà nước về kinh tế được gọi là quản lý hành chính - kinh tế. Quản lý Nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của Nhà nước.
Cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý kinh tế là hệ thống những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội; là hệ thống các quy tắc ràng buộc đối với mọi tổ chức ở bất cứ cấp nào và đối với bất kỳ hệ thống quản lý nào trong nền kinh tế quốc dân. Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm: hệ thống kế hoạch hóa, hệ thống đòn bẩy kinh tế và khuyến khích kinh tế như giá cả, tài chính, thuế tín dụng. nằm trong hệ thống kinh tế quốc dân và gắn bó hữu cơ với xây dựng cơ cấu kinh tế và hệ thống tổ chức quản lý.
Đặc điểm của quản lý Nhà nước về kinh tế - Quản lý Nhà nước về kinh tế là quản lý vĩ mô nền kinh tế: nhiệm vụ chủ yếu quản lý vĩ mô nền kinh tế là đảm bảo cân đối cơ bản trên bình diện tổng thể nền kinh tế, tạo ra môi trường tốt cho các chủ thể kinh tế trên thị trường đặc biệt là doanh nghiệp, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân phát triển liên tục với tốc độ cao và lành mạnh. - Quản lý Nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực Nhà nước: Quản lý Nhà nước về kinh tế là quản lý của Nhà nước đối với hệ thống kinh tế quốc dân, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, của chính quyền đối với nền kinh tế quốc dân. - Quản lý Nhà nước về kinh tế nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế - xã hội là chính: 8 Xuất phát từ hai đặc điểm trên, mục tiêu đặt ra trong quản lý Nhà nước về kinh tế là mục tiêu kinh tế - xã hội, mục tiêu này được thể hiện ở mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả kinh tế - xã hội được xem như tiêu chuẩn để đạt được mục tiêu trên.
Hiệu quả kinh tế - xã hội được hiểu theo hai nội dung: Thứ nhất, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thứ hai, là hiệu quả tổng hợp, không chỉ là hiệu quả kinh tế mà còn là hiệu quả chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường. Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế là nội dung hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý nền kinh tế, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải thực hiện để quản lý nền kinh tế quốc dân. Có ba cách tiếp cận chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế: - Cách tiếp cận theo các giai đoạn của quá trình quản lý.
Theo cách tiếp cận này để quản lý nền kinh tế quốc dân Nhà nước phải thực hiện những chức năng sau đây: 1) Chức năng định hướng nền kinh tế; 2) Chức năng tổ chức các hệ thông kinh tế hoạt động; 3) Chức năng điều hành nền kinh tế; 4) Chức năng kiểm tra; 5) Chức năng điều chỉnh nền kinh tế. - Cách tiếp cận theo phương hướng tác động. Theo các tiếp cận này, các chức năng của quản lý Nhà nước về kinh tế bao gồm: 1) Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; 2) Dẫn dắt và hỗ trợ sự phát triển; 3) Bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội; 4) Quản lý các doanh nghiệp Nhà nước. - Cách tiếp cận theo yếu tố và lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân.
Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế bao gồm: 1) Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ; 2) Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại; 3) Quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường; 4) Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực. Vai trò của quản lý Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. * Vai trò của Nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định nền kinh tế vĩ mô 9 Nền kinh tế của một quốc gia sẽ không thể "cất cánh" trừ khi nó có được nền tảng là một cơ sở hạ tầng vững chắc. Vì thế, Nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định nền kinh tế vĩ mô của Đất nước.
Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định do các cuộc khủng hoảng chu kỳ. Sự ổn định kinh tế là điều mà mọi Nhà nước đều mong muốn vì nó có lợi cho tất cả mọi người. Do vậy, Nhà nước phải duy trì sự ổn định đó. Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế, sử dụng ngân sách để tiến hành đầu tư công cho các công trình; xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng dựa trên căn cứ và tiêu chí kinh tế thích hợp nhằm giảm thiểu những gánh nặng chi phí của ngân sách Nhà nước và của nền kinh tế; tiến hành việc kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của các tập đoàn kinh tế nhà nước để duy trì sự ổn định nền kinh tế.
* Vai trò của Nhà nước đối với việc điều tiết các yếu tố ngoại vi Yếu tố ngoại vi là ảnh hưởng do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động của các doanh nghiệp hay cho xã hội. Yếu tố ngoại vi xảy ra khi có sự khác biệt về phí tổn hoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Các chi phí hoặc lợi ích này không được tính đến trong hệ thống giá cả và thị trường. Những chi phí ngoại vi cho sản xuất phải tính đến cả sự tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra.
Những yếu tố này gây nên sự giảm sút về phúc lợi của những người dân sống xung quanh hoặc có thể buộc những nhà máy khác gần đó phải tốn kém thêm chi phí để làm sạch nguồn nước bị ô nhiễm mà mình sử dụng trong sản xuất. Nhà nước sử dụng hệ thống thuế, luật pháp, điều lệ, mức hình phạt, thậm chí truy tố trước pháp luật nhằm giảm thiểu ô nhiễm hoặc tạo điều kiện để các tổ chức xã hội thành lập các quỹ bảo vệ môi trường, môi sinh nhằm giám sát các hoạt động của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường và khuyến nghị các biện pháp sản xuất bảo đảm yếu tố bền vững. Ngoài ra, nhà nước sử dụng chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên, bắt buộc các cá nhân, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên gây ô nhiễm phải chịu chi phí theo giá thị trường. Các khoản thuế hay biện pháp trợ cấp đều được coi là phương thức để nhà nước xử lý những yếu tố ngoại vi.
* Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm công bằng, trật tự xã hội Để thực hiện chức năng phân phối, nền kinh tế thị trường đòi hỏi một loạt thể chế phát triển cao, trong đó có hệ thống luật pháp để chống gian lận bao gồm: hệ thống có liên quan tới những quyền sở hữu, những điều luật về 10 phá sản và khả năng thanh toán, hệ thống tài chính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấp tiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt… Trong nền kinh tế thị trường cả người mua lẫn người bán đều muốn khi đã đồng ý trao đổi thì sự thoả thuận phải được thực hiện.