Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chung sức để xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên. “Những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất” (UNICEF). Năm 1996, UNESCO đề xuất bốn mục tiêu trụ cột của việc học tập là “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người, họp tại Senegan (2000), chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống của người học”.
Như vậy, giáo dục KNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục ở các nước. Nhìn chung các quốc gia cũng bước đầu triển khai chương trình về biện pháp giáo dục KNS nên chưa thật toàn diện và sâu sắc. Các quốc gia cũng chưa đưa ra được hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kỹ năng sống ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện KNS.2 Các nghiên cứu trong nước Thuật ngữ “kỹ năng sống” được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng.
Nguyễn Thanh Bình là một trong những tác giả có đóng góp đáng kể vào việc tạo ra hướng nghiên cứu KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam với nhiều bài báo, các đề tài khoa học cấp Bộ và giáo trình và tài liệu tham khảo. Tác giả đã nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về KNS, đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong giáo dục và giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông. Trên cơ sở phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xây dựng được khung lý luận về giáo dục KNS từ xác 11 skkn định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của giáo dục KNS. Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu khác như: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh; quan niệm về kỹ năng sống hiện nay; Nhập môn kỹ năng sống của tác giả Huỳnh Văn Sơn và một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác.
Qua nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã cho ra đời cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông”. Cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông”. Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và KNS, trong đó giáo dục giá trị sống luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Đây là những tiền đề để đưa công tác giáo dục giá trị sống, KNS cho học sinh trung học phổ thông vào các nhà trường.
Năm 2012, tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn Thanh Bình đã biên soạn cuốn sách “Hiệu trưởng trường Trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và giao tiếp ứng xử trong quản lý”. Đây là cuốn sách dùng làm tài liệu tập huấn cho cán bộ cốt cán trường THPT theo kế hoạch số 444/KH- BGDĐT ngày 31 tháng 5 năm 2012. Ngày 22 tháng 7 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 với mục tiêu liên quan đến KNS là: “Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý và các tình hướng trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội”. Từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình giáo dục KNS vào Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học.
Tuy nhiên, cho đến nay, nghiên cứu KNS tại Việt Nam, chương trình rèn luyện KNS cho học sinh chỉ mới thể hiện rõ ở chương trình giáo dục ngoài khung chương trình đào tạo hoặc chỉ lồng ghép, tích hợp vào các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường và cũng chưa có văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình chính thống về giảng dạy KNS cho học sinh. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc giáo dục KNS tại Việt Nam hiện nay.2 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm 12 skkn Về nội dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau, được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau do những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Frederick Winslow Taylor (1856-1915), người sáng lập thuyết quản lý theo khoa học đã định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm”. Đó cũng là tư tưởng cơ bản của ông về quản lý.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Định nghĩa quản lý một cách kinh điển nhất là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Như vậy, từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu, có thể khái quát như sau: “Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đề ra”. Chức năng Các nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lý. Theo quan điểm truyền thống, H.Flayol đã đưa ra năm chức năng quản lý.
Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống chức năng quản lý bao gồm 9 vấn đề. Theo quan điểm của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, có 4 chức năng. Tuy nhiên, quan điểm nào cũng đề cập đến 4 chức năng cơ bản sau: Kế hoạch hóa; Tổ chức (nhân sự, bộ máy); Chỉ đạo (điều hành, điều khiển); Kiểm tra. Quản lý giáo dục Khái niệm “quản lý giáo dục” được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học.
Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối ấy thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Từ những quan niệm trên, ta thấy: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý bằng các chức năng quản lý, thông qua các phương tiện và phương pháp quản lý nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra”. Quản lý nhà trường 13 skkn Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý nhà trường được hiểu là các hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”. Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy và trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học và giáo dục. Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thúc đẩy mọi hoạt động giáo dục của nhà trường thực hiện mục tiêu và kế hoạch đào tạo. Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 1.
Kỹ năng sống - Khái niệm: Kỹ năng sống là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi, trong mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo UNESCO, kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột giáo dục. Đó là: Học để biết; Học để làm; Học để làm người. UNICEF cho rằng: “Kỹ năng sống là những hành vi cụ thể thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống.” WHO quan niệm: “Kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử một cách có hiệu quả trước những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.