CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ VIỆC LÀM 1. Cơ sở lý luận về hoạt động dịch vụ việc làm 1. Hoạt động dịch vụ việc làm * Khái niệm việc làm Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để bảo đảm cuộc sống và phát triển toàn diện. Tạo việc làm, bảo đảm quyền bình đẳng về việc làm cho mọi người lao động là trách nhiệm của mọi quốc gia.
Trong khoản 2 điều 55 Hiến pháp năm 1992 đã quy định “Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” [2] “Tại các nước đang phát triển, việc làm là nền tảng căn bản cho phát triển, mang lại nhiều lợi ích to lớn hơn nhiều so với thu nhập đơn thuần. Việc làm có vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo, giúp các thành phố vận hành và giúp lớp trẻ tránh được bạo lực” (Theo báo cáo mới của Ngân Hàng Thế Giới nhận định)[15] Theo Báo cáo Phát triển Thế giới: “Việc làm nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng dựa vào một khu vực kinh tế tư nhân mạnh trong quá trình tạo việc làm và nêu bật cách thức mà việc làm có thể giúp cho phát triển thúc đẩy một chu trình đúng đắn. Báo cáo nhận thấy nghèo đói sẽ giảm xuống khi con người phấn đấu thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn và khi việc làm giúp phụ nữ đầu tư nhiều hơn cho con cái. Hiệu suất tăng lên khi người lao động làm việc giỏi hơn, khi các công việc có năng suất cao xuất hiện và các công việc năng suất thấp dần dần biến mất.
Xã hội phát triển khi việc làm thúc đẩy sự đa dạng và mang lại nhiều lựa chọn để giải quyết mâu thuẫn.” [15] “Một công việc tốt có thể làm thay đổi cuộc sống một cá nhân và những công việc phù hợp có thể chuyển đổi cả xã hội. Chính phủ các nước phải đưa việc làm trở thành trọng tâm của việc thúc đẩy sự thịnh vượng và chống đói nghèo”, Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới Jim Yong Kim nói. "Điều quan trọng là chính phủ các nước phải kết hợp tốt với khu vực tư nhân, nơi tạo ra 90% tổng số việc làm. Vì vậy, phải tìm ra cách tốt nhất giúp các doanh nghiệp và nông trại nhỏ phát triển.
Việc 5 làm là hy vọng. Việc làm là hòa bình. Việc làm có thể làm cho các nước dế bị tổn thương trở nên vững mạnh." [15] “Việc làm là bảo hiểm tốt nhất trước nghèo đói và tình trạng dễ bị tổn thương,” Ông Kaushik Basu, Chuyên gia kinh tế trưởng, Phó chủ tịch cao cấp Ngân Hàng Thế Giới phát biểu, “Các chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh mà trong đó cầu về lao động được cải thiện.” [15] Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.
Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta phải liên hệ đến phạm trù lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định.
Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm. Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận. Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: 6 - Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. - Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [1] Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán.
Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu. Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ.
Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm: 7 - Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần. - Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần.
Thời gian làm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục. - Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững. * Hoạt động dịch vụ việc làm Là hoạt động chắp nối của một tổ chức, cá nhân nhằm tạo ra một sản phẩm dịch vụ là việc làm, theo đó bên cung cấp dịch vụ ( người bán ) thực hiện các hoạt động tuyển chọn, đào tạo lao động theo nhu cầu, điều kiện, tiêu chuẩn của khách hàng là người sử dụng lao động ( người mua ).
Kết quả của sản phẩm dịch vụ việc làm là người lao động tìm được chỗ làm phù hợp, người sử dụng lao động tìm được người thích hợp phụ trách công việc mà mình đang cần. Trong đó các quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia thể hiện qua hợp đồng dịch vụ tuân thủ những quy định pháp luật cho phép. Hoạt động dịch vụ việc làm ở Việt Nam ra đời chủ yếu để đáp ứng nhu cầu việc làm cấp thiết tại thời điểm đất nước ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển đất nước. Tuy ra đời đã một thời gian dài nhưng nhìn chung, hoạt động dịch vụ việc làm ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển do các trung tâm dịch vụ việc làm vẫn chưa chuyên nghiệp, tính kết nối trong hệ thống chưa chặt chẽ, tần suất và phạm vi hoạt động chưa sâu rộng, thông tin phục vụ cho công tác tư vấn, giới thiệu việc làm còn thiếu cả về quy mô và chủng loại, đặc biệt là thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động theo ngành nghề, trình độ cho những năm tới.
Các đơn vị môi giới trung gian phát triển với nhiều hình thức đa dạng, bao gồm các trung tâm dịch vụ việc làm, sàn GDVL, hội chợ việc làm theo chủ trương 8 của Chính Phủ, hiện nay hầu hết các tỉnh, thành phố đều có các sàn GDVL. Mức đầu tư cho một sàn giao dịch việc làm ở mỗi địa phương không phải là thấp, nhưng tỷ lệ tìm việc qua trung tâm lại không cao. Kết quả, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở Việt Nam vẫn không được cải thiện, tình trạng cung không gặp cầu tại các sàn GDVL tiếp tục diễn ra. Nhiều nơi, sàn giao dịch việc làm thậm chí chỉ dựng lên cho có.
Đây là một thực trạng mà xã hội đáng lưu tâm. Thị trường GDVL là một dạng thị trường đặc biệt, gắn liền với các yếu tố “lao động”, “sức LĐ”, “các mối quan hệ LĐ” nên cần sự hỗ trợ và can thiệp từ Nhà nước, đặc biệt cần phát triển song hành với mục tiêu an sinh xã hội để phát triển bền vững. Các loại hình dịch vụ việc làm [3, tr 20-21] Căn cứ theo điều 37 của Hệ thống văn bản về lĩnh vực việc làm đã quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Tổ chức dịch vụ việc làm Theo điều khoản này chúng ta nhận thấy: - TTDVVL là đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: a. TTDVVL do cơ quan quản lý nhà nước thành lập; b.
TTDVVL do tổ chức chính trị- xã hội thành lập.