Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu: Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tinh Kon Tum Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học hệ giáo dục thường xuyên tai các Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Kon Tum CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VÁN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. TONG QUAN VAN DE NGHIEN CỨU 1. Quan niệm của thế giới về giáo dục thường xuyên Sau hơn 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đã hình thành được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hóa với đầy đủ các cắp học và trình độ đào. Hệ thống giáo dục đã bước đầu được đa dạng hóa cả về loại hình, phương, thức và nguôn lực, từng bước hội nhập với xu thế chung của giáo dục thế giới.
Từ một hệ thống giáo dục chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy, đến nay đã có các trường ngoài công lập, có nhiều loại hình không chính quy, có các trường mở, có phương thức đào tạo từ xa, phương thức đào tạo liên kết với nước ngoài. Và việc “Học tập suốt đời” ở Việt Nam hiện nay được Đảng và nhà nước ta chỉ rõ là phải dựa trên năm trụ cột: Giáo duc chính quy, giáo dục vừa làm vừa học, giáo dục từ xa, các Trung tâm giáo đục thường xuyên và hệ thống các Trung tâm học tập cộng đông. Giáo dục và dio tạo đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc và hợp tác quốc tế. Trong những thành tựu đạt được của nền giáo dục và đào tạo có sự đóng góp không nhỏ của giáo dục thường xuyên.
Chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc nhiều yếu tố, nhưng có lẽ quyết định nhất vẫn là đội ngũ, cơ sở vật chất và những người trực tiếp làm công tác quản lí ở các cấp, bậc học, ở các trường phỏ thông và các Trung tâm giáo dục thường xuyên. Trên thế giới, trước những năm 1960, nền giáo dục của các nước chủ yếu là duy trì và phát triển loại hình trường, lớp chính quy. Loại hình giáo dục nhà trường được đặc biệt chú trọng quan tâm. Vào cuối của thế ki XX, những ý tưởng về xây dựng một nền giáo dục đối mặt được với sự phát triển mạnh.
mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đáp ứng được những vấn đề con người của nền kinh tế mới sẽ thay thế nền kinh tế công nghiệp, đã được Uỷ ban quốc tế về Giáo dục thế ki XXI do Jacquec Delors làm chủ tịch, nêu ra trong báo cáo: “ọc rập: một kho báu tiêm ẩn” gửi lên UNESCO. Thế giới coi báo cáo này như một công bố quan trọng về một nền giáo dục lí tưởng trong tương lai. Cốt lõi của ý tưởng về một xã hội học tập, trong đó việc học tập suốt đời là nội dung xuyên suốt, là phải có một nên giáo dục đáp ứng những thách thức của một thế giới thay đổi nhanh chóng, và để đạt điều này thì phải đưa con người trở lại nhà trường để ứng xử với những tình huống mới mẻ, nôi lên trong đời sống cá nhân hay đời sống nghề nghiệp của họ. Đây là việc làm cân thiết và hệ trọng, bởi không thẻ thỏa mãn được những yêu cầu của thế giới trong thế kỉ XXI nếu mỗi con người không học cách học.
Uỷ ban Quốc tế về Giáo dục thế ki XXI cho rằng, học tập suốt đời là một trong những chia khóa mở cửa đi vào thế kỉ mới, coi học tập suốt đời là sức sống của xã hội tương lai. Cuối thế ki XX và trên một thập ki của thế ki XXI, nhân loại đang chứng kiến và hứng chịu hậu quả của các cuộc xung đột vũ trang, của chiến tranh cục bộ, của những cuộc đối đầu diễn ra liên tục, không tôn trọng, cuộc sống của người khác bởi sự bất cần biết lịch sử, truyền thống và những. giá trị tỉnh thần của mỗi quốc gia. Phải giải quyết thông minh và hòa bình những mâu thuẫn, những xung đột đã xảy ra, và nếu coi như đây là không tưởng thì cần hiểu là một không tưởng hết sức cần thiết, trước hết là một ý tưởng, là một tinh thần mới, và tiếp đến là những hành động hiện thực hóa ý tưởng đó.
Nếu không, loài người cứ luấn quản trong vòng nguy hiểm, bắt lực trong việc thiết lập một nền hòa bình vĩnh hằng. Năm 1972, Edgar Faure céng bố tác phẩm: “Học để làm người. Thế giới giáo dục ngày nay và ngày mai” Theo Edgar Faure làm người, tức là trở thành nhân cách, phải có những phẩm chất cơ bản; năng lực tự chủ, sự xét đoán thông minh và trách nhiệm cao của cá nhân trong việc cùng người khác, cùng cộng đồng phấn đầu để có được một xã hội học tập, trong đó, không một tài năng nào bị gạt bỏ. Tài năng của con người phải được coi như một kho báu tiềm ẩn trong mỗi người mà loài người phải khai thác triệt đề.
Một ý tưởng khác của Uỷ ban Quốc tế về Giáo duc thé ki XXI là xã hội học tập giúp cho con người cập nhật và ứng dụng. thông tin, có khả nang thu hap, chon lọc, xắp xếp, quản lí và sử dụng thông. tin, biến thông tin thành tri thức của mình. Thế giới hiện đại bắt tay vào việc xây dựng xã hội học tập.
Công việc bắt đầu từ năm 1972 khi Ủy ban Quốc tế về Giáo dục thế ki XXI đưa ra ý tưởng về xã hội học tập. Năm 1976, sau khi đưa ra báo cáo “Learning ro be”, UNESCO da cho biên soạn nhiêu tài liệu để giải thích và cụ thể hóa tư tưởng “Xây dựng xã hội học tập ”. Năm 1977, Hội đồng Canada thuộc UNESCO đã tô chức thảo luận về xã hội học tập, sau đó cho xuất bản tài liệu “2c /áp, cùng nhau, suốt đời” (Appendre, ensemble, tout au long de la vie). Năm 2000, Ủy ban Châu Âu ở Lisbone công bố “ðj vong lực vẻ giáo duc và đào tạo suốt đời” làm cơ sở cho các quốc gia thành viên xây dựng nên giáo dục theo hướng tiếp cận với giáo dục suốt đời (gắn giáo dục với đào tạo thành thể thống nhất theo tinh thần tiền hành suốt đời).
Giới thiệu các mô hình xã hội học tập trong các nước thuộc EU và Phát hành tài liệu “Học rập suốt đời - các thách đó” do Đại hội Mùa hè Châu Âu công bố. Từ ngày 01 đến 02 tháng 4 năm 2000, Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước G§ đã họp tại Tokyo - Nhật Bản đề chuẩn bị đệ trình đề án về giáo dục, trong đó có chủ trương xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời. Một số nước đã xây dựng chính sách quốc gia về giáo dục người lớn và đào tạo liên tục, quán triệt nguyên tắc giáo dục suốt đời như Canada, hoặc xây dựng. và ban hành Luật Giáo dục mới như Han Quốc.và năm 1999 - Thái Lan.
Quan niệm chủ yếu ở đây là, giáo dục không là hoạt động một lần đã đủ cho 10 cả đời, không giới hạn trong vòng đầu của thời niên thiếu, mà là quá trình tiếp tục suốt cuộc đời. Giáo dục suốt đời bao gồm cả việc học tập có mục đích và ngẫu nhiên của cả đời. Trong những năm đầu của thế ki XXI, nhiều nhà nghiên cứu chỉ đề cập tới ý tưởng “hướng đới xã hội học tập” Towards a Learning Society). Họ cho rằng, lúc này, xã hội học tập chưa thể trở thành một thực thể giáo dục, mà còn đang một quan niệm “mo”, can van dụng uyên chuyển đề đổi mới (Renovation) hoặc cải cách (Reforme) đối với nền giáo dục hiện có, trước hết là giáo dục người lớn.
Giáo dục thường xuyên ở nước ta qua các thời kì a. Thời kỳ Bình dân học vụ và Bồ túc văn hóa Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban bố Sắc lệnh về “Bình dân học vụ”; đây là phong trào xóa nạn mù chữ trong toàn dân. Để phục vụ chiến dịch xóa nạn mù chữ, Nha bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9, khoá huấn luyện giáo viên 8inh đân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh được mở tại Hà Nội. Lúc này, vì nhà nước còn non trẻ, ngân sách thiếu thốn, phong trào dựa vào sức dân là chính, người đi học được miễn phí, giáo viên không nhận lương.
Các lớp học bình dân được mở khắp nơi, trong nhà dân, đình chùa, miếu mạo, chỉ cần mấy chiếc ghế băng, ghế gỗ, hoặc mây, tre đặt quanh bàn, quanh chiếc phản và cánh cửa, tắm ván mộc làm bảng đã thành lớp học. Tại những nơi có nhiều người qua lại, như các ngõ xóm, cổng đình, công làng, người ta viết các chữ cái bằng vôi trên mẹt, nong. nia treo lên cây để ai đi qua cũng có dịp nhẩm, ôn các chữ đã học. Để thúc giục người dân học chữ, một số nơi còn dựng “cổng mù” ở đầu chợ.
Người muốn vào chợ phải thử đọc chữ, ai đọc được thì được đi công chính, ai chưa đọc được thì phải qua “cổng mà” để vào chợ. Hoà bình lập lại trên miền Bắc, phong trio Binh dan học vụ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn. Một mặt " tiếp tục chống mù chữ, mặt khác thực hiện bổ túc văn hoá đẻ nâng cao trình độ cho mọi người. Như vậy, thời kì “Binh dân học vụ ” được Đảng và Bác Hồ của chúng ta phát động từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 9 năm 1959 đã cơ bản hoàn thành xóa nạn mù chữ cho mọi người và sau đó là nâng cao trình độ văn hoá cho công - nông và đội ngũ cán bộ của Đảng chính quyền và đoàn thẻ.
Thời kì bỗ túc văn hóa được kế tiếp từ phong trào “Bình đân học vụ” và được chia làm hai thời kì. Nhiệm vụ của công tác bổ túc văn hóa là nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ và người dân lao động, đặt cơ sở cho việc giáo dục tư tưởng chính trị, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ kinh tế, văn hoá, xã hội trên quy mô lớn, mở rộng công tác phô biến kỹ thuật đây mạnh sản xuất và tăng cường khả năng quốc phòng bảo vệ tổ quốc. + Giai đoạn từ tháng 9/1959 đến tháng 9/1989 Đây là một thời kì có một giai đoạn nước ta chưa thống nhất, vì vậy ngoài giáo dục phổ thông thì việc học theo loại hình bổ túc văn hóa cũng còn gap nhiều khó khăn.