Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, chu chuyển oxy, duy trì độ phì của đất, chống xói mòn và giảm thiểu thiệt hại thiên tai. Tại Việt Nam, công tác quản lý và bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. Theo số liệu công bố kèm theo Thông tư số 25/2009/TT-BNN ngày 05/05/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích rừng toàn quốc tính đến ngày 31/12/2011 đạt 13.064 ha (trong đó rừng tự nhiên là 10.383 ha, rừng trồng là 3.681 ha, độ che phủ 39%). Tuy nhiên, tài nguyên rừng đang chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu, gia tăng dân số, khai thác quá mức và đặc biệt là sự phá hoại của dịch sâu bệnh.
Cây Thông (Pinus) là loài cây lâm nghiệp được gây trồng phổ biến nhờ tính chịu hạn cao, thích nghi với lập địa xấu, đất lẫn đá vùng đồi núi. Cây cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy sợi, gỗ trụ mỏ, đồ gia dụng và nhựa thông phục vụ sản xuất sơn, vecni, chất dẻo. Đồng thời, thông còn là loài cây cảnh quan quan trọng gắn với các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh. Tại Ban quản lý rừng đặc dụng huyện Nam Đàn (tỉnh Nghệ An), thông là cây trồng chủ lực tạo cảnh quan cho các khu di tích lịch sử như Khu mộ Bà Hoàng Thị Loan. Mặc dù vậy, rừng thông tại đây liên tục đối mặt với các đợt phát dịch sâu hại nghiêm trọng, điển hình là hai đợt đại dịch năm 2011 và năm 2013. Tính đến ngày 15/10/2013, toàn lâm phần có trên 1.830 ha / 3.294,7 ha diện tích rừng thông ở các cấp tuổi bị nhiễm sâu róm; trong đó hơn 735 ha bị nhiễm nặng với mật độ sâu trên dưới 1.000 con/cây, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và cảnh quan môi trường.
Để giải quyết bài toán trên, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thành phần loài sâu hại, nghiên cứu đặc điểm sinh học, hình thái và tập tính của các loài sâu hại thông chính; từ đó thử nghiệm và đề xuất các biện pháp phòng trừ phù hợp nhằm hạn chế thiệt hại, nâng cao năng suất rừng trồng, bảo tồn tính đa dạng sinh học và không gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định thành phần loài sâu hại Thông.
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, tập tính của các loài sâu hại Thông chính.
- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ sâu hại Thông.
- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại Thông.
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài côn trùng gây hại lá, thân cành ngọn và rễ cây thông tại lâm phần; các biện pháp phòng trừ cơ giới - vật lý và chế phẩm sinh học.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Lâm phần do Ban quản lý rừng đặc dụng huyện Nam Đàn quản lý với diện tích 3.294,7 ha, phân bố trên 14 tiểu khu (1010, 1011, 1012, 1014, 1015A, 1015B, 1015C, 1016A, 1016B, 1017A, 1017B, 1018, 1019A, 1020).
- Thời gian thực hiện: 4 đợt điều tra thực địa liên tục từ ngày 28/02/2015 đến ngày 09/04/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình áp dụng
Đề tài dựa trên nguyên lý Quản lý tổng hợp sâu bệnh hại (Integrated Pest Management - IPM) trong lâm nghiệp. Tác giả tổng hợp các luận điểm khoa học từ Hiệp hội IPM Hoa Kỳ (1994), Đại học Bang North Dakota, Trần Quang Hưng (1999), Đào Xuân Trường (1995) và Trần Văn Mão (1994, 1995). Theo đó, chiến lược IPM không đặt mục tiêu tiêu diệt hoàn toàn quần thể côn trùng mà hướng tới việc điều chỉnh mật độ sâu hại luôn ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế, kết hợp hài hòa các biện pháp sinh học, lâm sinh, vật lý cơ giới và hóa học trên nền tảng tôn trọng cân bằng sinh thái. Đề tài cũng kế thừa quy trình kỹ thuật phòng trừ sâu róm thông 4 túm lông (Dasychira axutha) trên thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) của Nguyễn Thế Nhã (giai đoạn 2009–2011).
Phương pháp nghiên cứu thực địa
Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp kế thừa tài liệu lưu trữ, phỏng vấn thực tế cán bộ quản lý rừng, công nhân khai thác nhựa, người dân địa phương và điều tra khảo sát chi tiết theo hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC):
- Thiết kế ô tiêu chuẩn: Thiết lập 9 OTC hình chữ nhật kích thước 40m x 25m ($S = 1.000,\text{m}^2$, số lượng cây $\ge 100$ cây/ô), phân bố đều trên 3 dạng địa hình (chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi) thuộc 2 hướng dốc (Đông Nam và Tây Bắc).
- Điều tra sâu hại lá: Quan sát trực tiếp trên các cành mẫu, đếm và thống kê số lượng cá thể phân theo các pha phát triển: trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành.
- Điều tra sâu hại thân, cành, ngọn: Khảo sát trên 5 cành điều tra/cây, kiểm đếm số ngọn bị hại trên tổng số ngọn, sử dụng dao/kéo mổ tách cành ngọn bị tổn thương để thu bắt mẫu và ghi nhận pha phát triển.
- Điều tra sâu dưới đất: Bố trí 5 ô dạng bản ($1,\text{m} \times 1,\text{m}$) trong mỗi OTC (4 góc và 1 ở giữa ô). Cuốc đất từng lớp sâu 10 cm, bóp nhỏ đất để tìm kiếm, bắt và phân loại côn trùng hại rễ. Vị trí ô dạng bản được dịch chuyển tịnh tiến theo đường chéo OTC qua các đợt điều tra.
- Thử nghiệm biện pháp phòng trừ:
- Biện pháp cơ giới - vật lý: Dùng 20 bóng đèn neon bẫy bắt ngài trưởng thành từ 19h00 đến 23h00; dùng vồ gỗ (khối lượng 1,5–2 kg) gõ vào thân cây để rung rụng sâu non thu gom thủ công; gỡ trứng và kén ở các khe nứt vỏ thân và tán lá. Thực hiện đối chứng giữa OTC 01 (áp dụng) và OTC 02 (đối chứng).
- Biện pháp chế phẩm sinh học: Thử nghiệm chế phẩm vi sinh VBT.USA 16000IU/MG (định mức kỹ thuật 1,4 kg/ha; liều phối trộn thực tế: 0,8 kg thuốc + 4 kg chất phụ gia bột), sử dụng máy phun bột áp lực cao phun đều lên tán rừng tại OTC 03, đối chứng không phun tại OTC 04.
Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp
Dữ liệu điều tra được tổng hợp và phân tích qua các chỉ tiêu thống kê sinh thái học lâm nghiệp:
- Mật độ sâu hại bình quân ($M$): $M = \frac{1}{n} \sum_{i=1}^{n} X_i$ (con/cây hoặc tổ/$\text{m}^2$).
- Tỷ lệ xuất hiện có sâu ($P%$): $P% = \frac{n}{N} \times 100%$ ($P < 25%$: phân bố ngẫu nhiên; $25% \le P \le 50%$: phân bố không đều; $P > 50%$: phân bố đều).
- Hệ số biến động mật độ ($S%$): $S% = \frac{S}{M} \times 100%$ ($S% < 25%$: ít biến động; $25% \le S% \le 75%$: biến động nhiều; $S% > 75%$: biến động rất nhiều).
- Kiểm tra độ thuần nhất giữa các OTC bằng tiêu chuẩn $U$:
$$U = \frac{|X_1 - X_2|}{\sqrt{\frac{S_1^2}{n_1} + \frac{S_2^2}{n_2}}}$$
Nếu $U \le 1,96$: hai ô cùng nằm trong một tổng thể thuần nhất; nếu $U > 1,96$: hai ô sai khác có ý nghĩa thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lược sử nghiên cứu
Chương này tổng kết bức tranh nghiên cứu côn trùng học và sâu hại cây rừng qua 3 bình diện:
- Trên thế giới: Hệ thống hóa quá trình nghiên cứu từ thời Hy Lạp cổ đại (Aristoteles phân loại hơn 60 loài), sự thành lập các hội côn trùng học tại Anh (1745) và Nga (1859/1959). Ghi nhận các công trình về sâu hại thông như Eseguy (Pháp, 1931) về mọt thông (Myelaphilus) và ong ăn lá (Lophyrus); các tài liệu phân loại bộ Cánh cứng của Volka và Sonkling (1910–1940); giáo trình Côn trùng học Liên Xô (1961) về giống sâu róm (Dendrolimus); các tài liệu thiên địch và sâu hại rừng của Trung Quốc (Trang Chấp Trung 1961, Thái Băng Hoa và Cao Thu Lâm 1987).
- Tại Việt Nam: Điểm lại các mốc giáo trình và chuyên khảo chuyên ngành: Phạm Ngọc Anh (1967), giáo trình "Kỹ thuật phòng trừ các loài sâu hại rừng" (1993), Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã (1997), Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2001) về dự tính dự báo; các công trình nghiên cứu sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha) của Nguyễn Thế Nhã giai đoạn 2009–2011.
- Quản lý tổng hợp sâu hại thông: Phân tích các nguyên lý IPM của các tác giả trong nước và quốc tế, định hình phương pháp tiếp cận điều hòa quần thể sâu hại dưới ngưỡng kinh tế trong lâm nghiệp.
Chương 2: Điều kiện cơ bản tự nhiên của khu vực nghiên cứu, đặc điểm dân sinh kinh tế, xã hội
- Điều kiện tự nhiên: Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Đàn quản lý diện tích 3.294,7 ha trên địa bàn 14 tiểu khu, tọa độ địa lý $18^\circ 33'15'' - 18^\circ 47'37''$ vĩ độ Bắc và $105^\circ 26'29'' - 105^\circ 36'25''$ kinh độ Đông. Địa hình gồm 2 dãy núi chính: núi Đại Huệ (đỉnh cao 470,5 m) và núi Thiên Nhẫn (độ dốc bình quân $30^\circ$, cục bộ lên đến $45^\circ$). Khí hậu chuyển tiếp Bắc - Nam, nhiệt độ bình quân năm $19,9^\circ\text{C}$ (tối cao $34,4^\circ\text{C}$, tối thấp $6,2^\circ\text{C}$), tổng giờ nắng $\approx 1.700$ giờ, chịu ảnh hưởng gay gắt của gió phơn Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 7; độ ẩm không khí trung bình $83%$; lượng mưa bình quân đạt $1.900,\text{mm}$ (tập trung tháng 7–9). Đất đai chủ yếu là feralit đỏ vàng trên đá sét và feralit vàng đỏ trên đá cát/đá dăm kết với tỷ lệ đá nổi $50–70%$, tầng đất mỏng và dễ xói mòn. Thực bì rừng chủ yếu là thông nhựa thuần loài hoặc hỗn giao thông - keo, thảm tươi dưới tán gồm sim, mua, tế, guột, cỏ lào.
- Kinh tế - xã hội: Huyện Nam Đàn có 150.996 nhân khẩu (năm 2011), mật độ dân số $546,\text{người/km}^2$. Lao động nông lâm nghiệp chiếm $86,3%$. Ban quản lý có 45 cán bộ biên chế, 245 công nhân hợp đồng khai thác nhựa thông và 124 hộ hợp đồng bảo vệ rừng. Diện tích đưa vào khai thác nhựa bình quân đạt 700–900 ha/năm, sản lượng bình quân 170 tấn nhựa/năm.
- Đánh giá thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (2011–2015): Bảo vệ diện tích rừng trồng đạt 2.764,50 ha (tổng lượt giai đoạn là 12.148,36 lượt ha); trồng mới 618,9 ha rừng tập trung (cây Xoan đâu, Keo tai tượng hạt, Keo tai tượng Úc) và 351.312 cây phân tán; thực hiện chăm sóc rừng trồng 950 lượt ha. Tổng kinh phí đầu tư lâm nghiệp giai đoạn 2011–2015 đạt 9.380.000.000 đồng.
Chương 3: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết cơ cấu 4 nội dung điều tra, quy trình thiết lập 9 OTC đại diện và các phương pháp toán sinh thống kê. Bảng thiết kế các ô tiêu chuẩn thực tế được xác lập như sau:
| STT OTC |
Vị trí tương đối |
Hướng dốc |
Độ dốc ($^\circ$) |
Độ cao (m) |
Tuổi cây (năm) |
$H_{vn}$ (m) |
$D_{1.3}$ (cm) |
Mật độ (cây/OTC) |
| 1 |
Chân đồi |
Đông Nam |
17 |
105 |
31 |
18,1 |
18,4 |
105 |
| 2 |
Sườn đồi |
Đông Nam |
21 |
125 |
31 |
17,5 |
17,6 |
116 |
| 3 |
Đỉnh đồi |
Đông Nam |
19 |
180 |
31 |
16,3 |
16,5 |
131 |
| 4 |
Chân đồi |
Tây Bắc |
15 |
74 |
31 |
18,4 |
18,7 |
125 |
| 5 |
Sườn đồi |
Tây Bắc |
24 |
135 |
31 |
19,2 |
19,2 |
110 |
| 6 |
Đỉnh đồi |
Tây Bắc |
20 |
162 |
26 |
17,5 |
17,4 |
121 |
| 7 |
Chân đồi |
Đông Nam |
10 |
76 |
26 |
16,2 |
16,3 |
119 |
| 8 |
Sườn đồi |
Đông Nam |
18 |
119 |
26 |
17,6 |
17,5 |
117 |
| 9 |
Đỉnh đồi |
Đông Nam |
15 |
151 |
26 |
17,3 |
17,2 |
126 |
Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương tập trung xử lý số liệu thu thập qua 4 đợt khảo sát, phân lập thành phần sâu hại, xác định 3 loài sâu hại chủ chốt, đánh giá mối tương quan giữa mật độ sâu với yếu tố môi trường (thời gian, hướng dốc, độ cao) và thử nghiệm các giải pháp phòng trừ IPM.
Kết quả và đóng góp
1. Thành phần loài sâu hại tại khu vực nghiên cứu
Qua 4 đợt điều tra, đề tài đã phát hiện và giám định được 9 loài sâu hại thuộc 8 họ, nằm trong 6 bộ côn trùng khác nhau:
| STT |
Bộ côn trùng |
Họ |
Tên Việt Nam |
Tên khoa học |
Pha gây hại |
Tỷ lệ trong bộ (%) |
| 1 |
Cánh bằng (Isoptera) |
Termitidae |
Mối |
Macrotermes annandalei Silvestri |
$+$ |
11,11% |
| 2 |
Cánh thẳng (Orthoptera) |
Acrididae |
Châu chấu đùi vằn |
Melanoplus sp. |
$+$ |
22,22% |
| 3 |
Cánh thẳng (Orthoptera) |
Gryllidae |
Dế mèn nâu nhỏ |
Gryllus testaceus Walker |
$+$ |
|
| 4 |
Cánh cứng (Coleoptera) |
Scarabaeidae |
Bọ hung nâu nhỏ |
Maladera sp. |
$+$ |
22,22% |
| 5 |
Cánh cứng (Coleoptera) |
Scarabaeidae |
Bọ hung nâu lớn |
Holotrichia sauteri Mauser |
$+$ |
|
| 6 |
Cánh vảy (Lepidoptera) |
Lasiocampidae |
Sâu róm thông |
Dendrolimus punctatus Walker |
$(-), +$ |
22,22% |
| 7 |
Cánh vảy (Lepidoptera) |
Tortricidae |
Sâu đục ngọn thông |
Evetria duplana Hb |
$(-)$ |
|
| 8 |
Cánh màng (Hymenoptera) |
Diprionidae |
Ong ăn lá thông |
Diprion pini L. |
$(-), +$ |
11,11% |
| 9 |
Cánh không đều (Hemiptera) |
Pentatomidae |
Bọ xít xanh |
Nezara viridula Linne |
$+$ |
11,11% |
(Ghi chú: $-$: Sâu non; $0$: Nhộng; $+$: Trưởng thành).
2. Xác định các loài sâu hại chủ yếu
Căn cứ vào mật độ cá thể, tần suất xuất hiện qua các đợt khảo sát, tỷ lệ xuất hiện ($P%$) và đặc tính sinh vật học, đề tài rút ra 3 loài sâu hại chính có nguy cơ bùng phát dịch:
- Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus): Xuất hiện liên tục cả 4 đợt điều tra, mật độ trung bình đạt 1,18 con/cây, tỷ lệ cây có sâu $P% = 39,44%$, hệ số biến động $S% = 52%$. Sâu cái đẻ 300–350 trứng, vòng đời 4–5 thế hệ/năm; sâu non di chuyển nhanh nhờ buông tơ theo gió, gây trụi lá trên diện rộng.
- Ong ăn lá thông (Diprion pini): Xuất hiện cả 4 đợt điều tra, mật độ trung bình đạt 0,55 con/cây, tỷ lệ cây có sâu $P% = 28,05%$, hệ số biến động $S% = 74%$. Mật độ tăng trưởng mạnh từ đợt 1 (0,42 con/cây) lên đợt 3 (1,62 con/cây).
- Mối (Macrotermes annandalei): Xuất hiện cả 4 đợt khảo sát với mật độ trung bình 0,05 tổ/$\text{m}^2$, tỷ lệ ô có mối $P% = 23,06%$, hệ số biến động $S% = 78%$. Mối xâm hại gốc rễ qua các vết thương cơ giới và làm tổ dưới gốc cây tạo hốc rỗng, khiến thông khô héo hoặc dễ đổ gãy khi gặp gió bão.
Các loài còn lại như châu chấu đùi vằn (mật độ 0,03 con/cây, $P% = 1,05%$), sâu đục ngọn thông (0,39 ngọn/cây, $P% = 1,38%$), bọ xít xanh, bọ hung nâu nhỏ (0,1 con/cây) và dế mèn nâu nhỏ (0,04 con/cây) đều có mật độ thấp và biến động ngẫu nhiên, chưa gây hại đáng kể.
3. Quy luật biến động mật độ sâu hại chính
- Biến động theo thời gian và khí hậu: Mật độ cả 3 loài có xu hướng tăng dần từ tháng 2 đến tháng 4. Điều này tương ứng với diễn biến nhiệt độ tăng dần từ $16,13^\circ\text{C}$ (tháng 2) sang mùa xuân ấm áp, tạo điều kiện thuận lợi cho sâu non phát triển và kén vũ hóa.
- Biến động theo hướng dốc: Mật độ sâu hại ở hướng sườn Đông Nam cao hơn rõ rệt so với hướng sườn Tây Bắc. Hướng Đông Nam đón gió ẩm, thảm thực vật sinh trưởng tốt, tạo nguồn thức ăn dồi dào; ngược lại sườn Tây Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc khô lạnh nên thông sinh trưởng kém hơn, mật độ sâu thấp hơn.
| Hướng dốc |
STT OTC |
Sâu róm thông (con/cây) |
Ong ăn lá thông (con/cây) |
Mối (tổ/$\text{m}^2$) |
| Đông Nam |
OTC 02 |
1,08 |
0,62 |
0,04 |
| Tây Bắc |
OTC 05 |
0,65 |
0,38 |
0,08 |
- Biến động theo độ cao địa hình: Mật độ của cả 3 loài sâu hại giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi:
| Vị trí tương đối |
STT OTC |
Sâu róm thông (con/cây) |
Ong ăn lá thông (con/cây) |
Mối (tổ/$\text{m}^2$) |
| Chân đồi |
OTC 01 |
1,80 |
0,85 |
0,08 |
| Sườn đồi |
OTC 02 |
1,08 |
0,62 |
0,04 |
| Đỉnh đồi |
OTC 03 |
0,65 |
0,31 |
0,02 |
Nguyên nhân do chân đồi có tầng đất dày, ẩm, thảm mục phong phú, cây thông sinh trưởng tốt tạo nguồn thức ăn tối ưu. Lên đến đỉnh đồi, đất bị xói mòn mạnh, khô cằn, thảm mục mỏng nên mật độ sâu hại và mối giảm rõ rệt. Kiểm tra tiêu chuẩn thống kê $U$ giữa các chỉ tiêu đường kính ($D_{1.3}$) và chiều cao ($H_{vn}$) giữa các ô đều cho giá trị vượt ngưỡng 1,96 (ví dụ $U_{Hvn}$ Chân - Sườn đạt 23,98), khẳng định sự sai khác sinh thái giữa các vị trí địa hình là có ý nghĩa.
4. Đề xuất hệ thống giải pháp phòng trừ
- Biện pháp vật lý cơ giới: Tổ chức bẫy đèn neon (19h–23h) diệt ngài trưởng thành; sử dụng vồ gỗ 1,5–2 kg gõ thân rung bắt sâu non; bóc gỡ tổ trứng và kén ở vỏ thân thông tái sinh và cành thấp.
- Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Chăm sóc rừng định kỳ, làm cỏ, phát dọn thực bì tạo không gian thoáng đãng; trồng dải cây xanh hỗn giao để ngăn ngừa dịch lây lan; bảo vệ thảm cây bụi bản địa làm nơi cư trú cho thiên địch.
- Biện pháp sinh học: Ứng dụng chế phẩm vi sinh VBT.USA 16000IU/MG phun bột bằng máy áp lực cao nhằm tiêu diệt sâu non mà không gây ô nhiễm nguồn nước và suy thoái hệ vi sinh vật đất.
- Biện pháp hóa học: Chỉ khoanh vùng phun thuốc hóa học cục bộ khi mật độ sâu vượt ngưỡng kinh tế và có nguy cơ bùng phát đại dịch, tuyệt đối không phun tràn lan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Thời gian điều tra thực địa tương đối ngắn (diễn ra trong 4 đợt từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 4 năm 2015), chưa bao quát toàn bộ chu kỳ sinh trưởng cả năm, đặc biệt là giai đoạn mùa hè nắng nóng (tháng 5 đến tháng 8) khi mối phân đàn mạnh và sâu đục ngọn xuất hiện đỉnh điểm.
- Do nghiên cứu thực hiện trong phân khu rừng đặc dụng, các quy chế bảo tồn nghiêm ngặt không cho phép chặt hạ cành nhánh hay đẽo vỏ thân hàng loạt, dẫn đến việc khảo sát định lượng nhóm sâu đục thân, cành, ngọn gặp nhiều hạn chế.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Kéo dài thời gian theo dõi liên tục qua các mùa trong năm để thiết lập đầy đủ biểu đồ biến động số lượng các pha phát triển của sâu hại.
- Đánh giá chi tiết hiệu lực tồn lưu sinh học, mức độ tác động đến côn trùng thiên địch và tính toán chi phí tài chính cụ thể khi triển khai chế phẩm sinh học VBT.USA trên diện rộng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học và Bảo vệ thực vật. Tài liệu cung cấp phương pháp luận thực tế về:
- Kỹ thuật điều tra, lập ô tiêu chuẩn khảo sát sâu bệnh rừng trồng trên lập địa đồi núi dốc.
- Quy trình xử lý số liệu toán học sinh thái ($M, P%, S%, U$) trong đánh giá phân bố côn trùng rừng.
- Tài liệu tham khảo thực tiễn cho cán bộ kỹ thuật tại các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng khu vực Bắc Trung Bộ trong công tác dự tính, dự báo và triển khai phương án phòng trừ sâu hại thông theo hướng tiếp cận IPM bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao khóa luận xác định sâu róm thông, ong ăn lá thông và mối là 3 loài gây hại chủ yếu dù điều tra phát hiện tới 9 loài?
Dù phát hiện 9 loài côn trùng nhưng châu chấu đùi vằn, bọ xít xanh, sâu đục ngọn, bọ hung và dế mèn đều có mật độ rất thấp (dưới 0,1 con/cây hoặc ngọn/cây), tỷ lệ xuất hiện không đều ($P% < 2,6%$) và hệ số biến động rất cao ($S% > 130%$). Ngược lại, sâu róm thông và ong ăn lá thông có mật độ cao (lên đến 1,18 con/cây và 1,62 con/cây), tỷ lệ bắt gặp thường xuyên cả 4 đợt điều tra ($P%$ từ $28%$ đến gần $40%$), khả năng sinh sản nhanh gây rụng lá hàng loạt. Mối có mật độ 0,05 tổ/$\text{m}^2$, phá hoại trực tiếp rễ cây và tạo hốc rỗng khiến cây thông dễ đổ ngã.
2. Yếu tố độ cao và địa hình ảnh hưởng như thế nào đến sự phân bố của sâu hại thông tại Nam Đàn?
Mật độ của cả 3 loài sâu hại chính đều giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi (ví dụ: sâu róm giảm từ 1,80 con/cây ở chân đồi xuống 0,65 con/cây ở đỉnh đồi). Nguyên nhân do vị trí chân đồi có tầng đất dày, ẩm, thảm mục dày, cây thông sinh trưởng xanh tốt cung cấp thức ăn dồi dào cho sâu ăn lá và giá thể lý tưởng cho mối làm tổ. Ở đỉnh đồi, đất bị xói mòn mạnh, khô cằn, biên độ nhiệt độ khắc nghiệt khiến sâu hại kém phát triển hơn.
3. Trận đại dịch sâu róm thông năm 2013 tại Nam Đàn đã gây ra thiệt hại cụ thể như thế nào?
Theo số liệu hồ sơ lưu trữ của đơn vị, tính đến ngày 15/10/2013, dịch sâu róm đã lây lan trên diện tích 1.830 ha trong tổng số 3.294,7 ha rừng thông của Ban quản lý; trong đó có trên 735 ha thông bị nhiễm nặng với mật độ sâu ghi nhận lên tới trên dưới 1.000 con/cây, làm thông rụng lá xơ xác và giảm sút nghiêm trọng sản lượng khai thác nhựa.
4. Liều lượng và kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học VBT.USA được áp dụng ra sao trong nghiên cứu?
Chế phẩm sinh học VBT.USA 16000IU/MG được sử dụng ở định mức kỹ thuật 1,4 kg/ha. Khi thực hiện phun tại ô thử nghiệm, tác giả sử dụng công thức phối trộn gồm 0,8 kg thuốc bột kết hợp với 4 kg chất phụ gia bột, sử dụng máy phun động cơ áp lực cao để thổi đều bột thuốc lên tán lá cây rừng.
5. Việc kiểm tra chỉ số thống kê $U$ giữa các ô tiêu chuẩn có ý nghĩa gì đối với kết quả nghiên cứu?
Chỉ số $U$ dùng để kiểm định độ thuần nhất giữa các mẫu quan sát của các ô tiêu chuẩn so sánh. Khi giá trị tính toán $U > 1,96$, nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về sinh trưởng của rừng ($D_{1.3}, H_{vn}$) giữa chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi là có ý nghĩa thống kê; từ đó chứng minh điều kiện lập địa và sinh thái cây rừng thực sự chi phối đến mật độ phân bố của sâu hại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hữu Lợi đã cung cấp dẫn liệu điều tra toàn diện về 9 loài sâu hại trên cây thông tại Ban quản lý rừng đặc dụng huyện Nam Đàn, làm rõ quy luật biến động mật độ của 3 loài sâu hại nguy hiểm nhất là sâu róm thông, ong ăn lá thông và mối theo thời gian, hướng dốc và độ cao địa hình. Nghiên cứu khẳng định sự phụ thuộc chặt chẽ giữa điều kiện sinh thái vi khí hậu, thổ nhưỡng với mật độ quần thể dịch hại rừng. Các thử nghiệm bước đầu về biện pháp cơ giới và chế phẩm sinh học VBT.USA 16000IU/MG là cơ sở khoa học và thực tiễn để đơn vị xây dựng phương án phòng trừ tổng hợp (IPM), góp phần bảo tồn cảnh quan và phát triển bền vững tài nguyên rừng thông đặc dụng tại địa phương.