Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên rừng đóng vai trò thiết yếu đối với cân bằng sinh thái và đời sống kinh tế - xã hội, tuy nhiên dưới tác động trực tiếp và gián tiếp của con người, diện tích rừng tự nhiên cùng tính đa dạng sinh học đang suy giảm nghiêm trọng. Việc điều tra và xác định đặc điểm lâm học của từng loài cây bản địa là cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, phục vụ công tác bảo tồn cũng như phát triển rừng bền vững.

Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) là loài cây gỗ lớn thuộc họ Long não (Lauraceae), phân bố tự nhiên tại Lào, Campuchia và Việt Nam. Tại Việt Nam, loài có biên độ sinh thái tương đối rộng, thích nghi với các khu vực có lượng mưa bình quân từ 800 mm đến 2.500 mm/năm và nhiệt độ trung bình từ 20°C đến 27°C, phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên như Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Gia Lai. Trong tự nhiên, cây có thể đạt chiều cao 25 - 30 m, đường kính ngang ngực 60 - 70 cm, thân tròn thẳng, phân cành cao trên 5 m và có giá trị sử dụng gỗ thuộc nhóm VI. Do tình trạng khai thác quá mức phục vụ nhu cầu kinh tế, vùng phân bố tự nhiên của loài bị thu hẹp nhanh chóng và số lượng cá thể suy giảm nghiêm trọng, đặt loài trước nguy cơ cạn kiệt nguồn gen trong tự nhiên. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về Kháo vàng ở trong nước còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào hình thái sơ bộ và kỹ thuật vườn ươm, thiếu hụt các dẫn liệu định lượng về cấu trúc lâm phần và đặc tính tái sinh tự nhiên.

Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng (huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) được thành lập theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, là khu rừng đặc dụng có diện tích rừng tự nhiên 17.639 ha với chức năng bảo tồn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và các nguồn gen sinh vật đặc hữu, quý hiếm. Đồng thời, theo định hướng phát triển Nông Lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2020 về đẩy mạnh kinh doanh trồng rừng gỗ lớn tại các tỉnh miền núi, việc nghiên cứu loài Kháo vàng tại khu vực này có ý nghĩa cấp thiết.

Khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định được một số đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, cấu trúc tầng cây gỗ, đặc điểm tái sinh của loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng nghiên cứu là loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) phân bố tự nhiên. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại các hệ sinh thái rừng tự nhiên thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tập trung vào cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tổ thành, mật độ, quy luật phân bố lâm phần, đặc điểm tầng cây tái sinh, phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và một số đặc điểm đất rừng. Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tiếp cận hệ thống phân cấp lâm học: Cây cá thể – Lâm phần – Hệ sinh thái rừng – Vốn rừng tổng thể. Các quy luật sinh thái, tương quan sinh trưởng giữa cây và điều kiện lập địa ở cấp độ cá thể được kết hợp với các quy luật cấu trúc không gian, thời gian và động thái quần xã ở cấp độ lâm phần. Nghiên cứu kế thừa khung phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978, 2000, 2010), hệ thống phân loại thảm thực vật UNESCO (1973), hệ thống phân chia trạng thái rừng theo Quy phạm Thiết kế Kinh doanh rừng QPN 6-84 và tiêu chuẩn xác định rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Đồng thời, đề tài vận dụng các lý thuyết về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới của Richards (1952, 1965), Vansteenis (1956), Bernard Rollet (1974), Janzen (1970) và Connell (1971).

Phương pháp thu thập số liệu kết hợp giữa phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp và phương pháp điều tra thực nghiệm sinh thái ngoài thực địa:

  • Điều tra tầng cây gỗ: Thiết lập 9 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời có diện tích 1.000 m² (kích thước 50 m × 20 m) tại các lâm phần có Kháo vàng phân bố tự nhiên, bố trí đều trên 3 dạng địa hình (3 OTC ở chân đồi, 3 OTC ở sườn đồi và 3 OTC ở đỉnh đồi). Trong mỗi OTC, tiến hành định danh loài và đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) từ 6 cm trở lên; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước sào chuyên dụng có vạch chia đến 20 cm; đo đường kính hình chiếu tán ($D_t$) theo hai hướng Đông – Tây và Nam – Bắc bằng thước dây với sai số ±10 cm; đánh giá phẩm chất cây theo 3 cấp: tốt, trung bình, xấu.
  • Điều tra tầng cây tái sinh: Trên mỗi OTC cây gỗ, lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (kích thước 5 m × 5 m) bố trí tại 4 góc và 1 tâm ô tiêu chuẩn. Tiến hành xác định tên loài, nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi), chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu) và đo chiều cao cây tái sinh. Đối với riêng loài Kháo vàng, tác giả lập thêm các ô dạng bản 25 m² xung quanh gốc cây mẹ (gồm 4 ô trong tán và 4 ô ngoài tán) để đánh giá khả năng phát tán và diễn biến tái sinh.
  • Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi và đất rừng: Ghi nhận thành phần loài, chiều cao và độ che phủ (%) của tầng cây bụi, thảm tươi trên toàn bộ ô tiêu chuẩn. Đào 3 phẫu diện đất kích thước 1,2 m × 0,8 m × 1,0 m đại diện cho 3 dạng địa hình chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi gần nơi Kháo vàng phân bố; mô tả hình thái phẫu diện, loại đất, độ dày tầng đất, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới và độ ẩm theo Sổ tay điều tra quy hoạch rừng (1995).

Phương pháp xử lý số liệu thống kê sinh học áp dụng các công thức:

  • Hệ số tổ thành tầng cây gỗ xác định thông qua chỉ số giá trị quan trọng IV% của Curtis (1959): $$IV_i% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$$ Trong đó $N_i%$ là tỷ lệ phần trăm số cá thể loài $i$, $G_i%$ là tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang loài $i$. Loài có $IV% > 5%$ được xác định là loài tham gia công thức tổ thành; nhóm loài có tổng số cá thể chiếm trên 50% được coi là nhóm loài ưu thế sinh thái.
  • Đánh giá đa dạng sinh học cây gỗ bằng chỉ số Simpson ($Cd = 1 - \sum (n_i / N)^2$) và chỉ số Shannon – Wiener ($H' = - \sum (n_i / N) \ln(n_i / N)$).
  • Mật độ tầng cây gỗ và cây tái sinh quy đổi theo đơn vị diện tích: $$N/\text{ha} = \frac{n}{S} \times 10.000$$
  • Tổ thành tầng cây tái sinh tính theo tỷ lệ tham gia $n_j%$ và hệ số tổ thành $K_i = (n_i / N) \times 10$ cho các loài có $n% \ge 5%$.
  • Phân bố cây tái sinh theo 8 cấp chiều cao (Cấp I: <0,5 m; Cấp II: 0,5 - 1 m; Cấp III: 1 - 1,5 m; Cấp IV: 1,5 - 2 m; Cấp V: 2 - 2,5 m; Cấp VI: 2,5 - 3 m; Cấp VII: >3,0 m) và mô phỏng qua hàm Mayer.
  • Phân bố không gian cây tái sinh kiểm định qua tiêu chuẩn khoảng cách $U$ của Clark và Evans: giá trị $U < -1,96$ phản ánh phân bố cụm, $-1,96 \le U \le 1,96$ phản ánh phân bố ngẫu nhiên, $U > 1,96$ phản ánh phân bố đều.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của tài nguyên rừng núi đá vôi, sự suy giảm số lượng cá thể loài Kháo vàng do áp lực khai thác của dân cư bản địa và tiềm năng đưa Kháo vàng vào cơ cấu cây trồng rừng gỗ lớn bản địa. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc bổ sung dữ liệu sinh học, sinh thái làm cơ sở đề xuất biện pháp bảo tồn tại chỗ và phát triển loài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế về ba nhóm nội dung:

  • Đặc điểm sinh học và cấu trúc lâm phần: Trích dẫn các công trình phân loại thực vật họ Lauraceae (Lecomte, Jussieu, Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Kim Đào ghi nhận 265 loài, 21 chi tại Việt Nam); nghiên cứu cấu trúc tầng phiến, dạng sống của Richards, Catinot, Thái Văn Trừng; nghiên cứu cấu trúc đường kính, chiều cao của Nguyễn Thanh Bình, Lê Phương Triều, Nguyễn Toàn Thắng.
  • Đặc điểm tái sinh rừng: Phân tích cơ chế tái sinh vệt, tái sinh phân tán liên tục theo độ tàn che của Vansteenis, giả thuyết cạnh tranh đào thải dưới tán cây mẹ của Janzen và Connell, các phương pháp điều tra chẩn đoán của Barnard và Loeschau.
  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu: Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng nằm trên địa bàn 7 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Võ Nhai, tọa độ từ 105°51'05'' đến 106°08'38'' kinh độ Đông và 21°45'12'' đến 21°56'30'' vĩ độ Bắc. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa vùng núi, nhiệt độ trung bình năm 22,3°C (thấp nhất trung bình 19,3°C, cao nhất trung bình 26,9°C), lượng mưa trung bình năm từ 1.500 mm đến 2.500 mm. Địa chất gồm đất nâu đỏ trên núi đá vôi và đất đỏ vàng/vàng xám trên đá biến chất, phiến thạch sét. Khu hệ thực vật ghi nhận 1.096 loài thuộc 645 chi, 160 họ của 5 ngành; khu hệ động vật gồm 295 loài thuộc 93 họ, 30 bộ của 5 lớp động vật có xương sống. Về dân sinh, khu vực có 6 dân tộc (Tày chiếm 41,72%, Dao chiếm 21,12%, Nùng, Kinh, H'Mông, Cao Lan) với tổng số 4.929 hộ; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 39% (1.921 hộ), thu nhập bình quân 3,5 triệu đồng/người/năm, đất sản xuất nông nghiệp hạn hẹp (0,33 ha/người), tạo sức ép lớn lên việc khai thác lâm sản trái phép.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chi tiết hóa quy trình bố trí 9 ô tiêu chuẩn 1.000 m² trên 3 đai địa hình (chân, sườn, đỉnh đồi), hệ thống ô dạng bản 25 m² đo đếm tái sinh và phương pháp đào 3 phẫu diện đất. Toàn bộ các công thức toán học tính toán tổ thành, chỉ số đa dạng sinh học, mật độ, chất lượng cây con, phân bố Mayer và kiểm định Clark - Evans được xây dựng hoàn chỉnh làm chuẩn mực xử lý dữ liệu ngoại nghiệp.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố các dẫn liệu định lượng đo đếm thực tế:

  • Đặc điểm hình thái: Kháo vàng tại khu vực nghiên cứu là cây thân gỗ, thân thẳng, phân cành cao trên 5 m, vỏ mỏng có mùi thơm, khi già bong vảy mảng. Lá đơn mọc cách, hình trứng ngược, đuôi hình nêm, kích thước rộng 3 - 4 cm, dài 6 - 9 cm, mặt trên xanh lục nhẵn, mặt dưới phớt trắng, mép nguyên, không có lá kèm, chứa tinh dầu thơm và thường tụ ở đầu cành. Hoa tự viên chuỳ ở nách lá, hoa lưỡng tính; bao hoa có 6 thuỳ bằng nhau hình thuôn, phủ lông ngắn; nhị đực gồm 9 nhị xếp thành 3 vòng (6 nhị ngoài không tuyến, bao phấn 4 ô; 3 nhị trong có hai tuyến ở gốc). Quả hình cầu đường kính 1 - 1,5 cm, đài hoa tồn tại xòe ở gốc quả; khi chín chuyển màu tím đen phủ phấn trắng; hạt màu nâu vàng. Cây ra hoa vào tháng 3 - 4, quả chín vào tháng 10 - 11, thời vụ thu hái quả thích hợp nhất từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11.
  • Kích thước sinh trưởng cá thể: Khóa luận công bố số liệu chi tiết từ 9 cây tiêu chuẩn đo đếm tại hiện trường, thể hiện qua bảng kích thước lâm học.
  • Các nội dung về cấu trúc tổ thành, mật độ lâm phần, chỉ số đa dạng loài, đặc điểm tầng tái sinh và đặc điểm phẫu diện đất được tác giả lập danh mục xử lý số liệu (từ Bảng 4.2 đến Bảng 4.10) theo hệ thống phương pháp đã đề ra.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết các nét đặc trưng lâm học của Kháo vàng tại khu vực Thần Sa – Phượng Hoàng và kiến nghị các giải pháp lâm sinh nhằm bảo tồn nguồn gen, xúc tiến tái sinh tự nhiên và định hướng gieo ươm nhân giống loài cây gỗ này.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm về kích thước cá thể của loài Kháo vàng thông qua điều tra 9 cây tiêu chuẩn tại các vị trí phân bố trong khu bảo tồn:

Cây tiêu chuẩn $D_{1.3}$ (cm) $H_{vn}$ (m) $H_{dc}$ (m) $D_t$ (m)
1 22,64 15,40 5,00 5,25
2 21,25 13,00 5,00 4,50
3 15,46 10,40 6,00 5,00
4 14,83 11,40 4,00 4,25
5 17,47 14,00 5,00 6,00
6 16,71 15,00 6,50 5,50
7 20,13 13,60 7,00 6,25
8 18,56 13,00 6,00 7,00
9 14,27 14,20 7,00 4,75
Trung bình 17,92 11,62 5,00 5,39

Ghi chú số liệu: Các cây tiêu chuẩn điều tra có đường kính ngang ngực biến thiên từ 14,27 cm đến 22,64 cm (trung bình đạt 17,92 cm); chiều cao vút ngọn biến thiên từ 10,40 m đến 15,40 m (trung bình theo bảng tổng hợp là 11,62 m; giá trị trung bình tính theo đoạn phân tích văn bản đạt 12,88 m); chiều cao dưới cành biến động từ 4,00 m đến 7,00 m (trung bình đạt 5,00 m); đường kính tán dao động từ 4,25 m đến 7,00 m (trung bình đạt 5,39 m).

Về mặt đóng góp, nghiên cứu đã bổ sung dẫn liệu mô tả chi tiết cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại sinh cảnh núi đá vôi miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là đặc điểm vật hậu học (thời gian ra hoa tháng 3 - 4, quả chín tháng 10 - 11, thời điểm thu hái hạt giống cuối tháng 10 đầu tháng 11). Công trình xác lập hệ thống phương pháp điều tra thực nghiệm chuẩn hóa cho loài Kháo vàng từ quy mô lâm phần cây gỗ lớn (OTC 1.000 m²) đến quy mô tái sinh dưới tán và ngoài tán cây mẹ (ODB 25 m²), tạo cơ sở khoa học để Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng xây dựng phương án kỹ thuật lâm sinh, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và thu hái hạt giống phục vụ bảo tồn nguồn gen.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong thời gian ngắn (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2017) với nguồn lực và kinh nghiệm nghiên cứu bước đầu của sinh viên, do đó phạm vi điều tra thực địa mới tập trung trên 9 ô tiêu chuẩn tạm thời tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng. Văn bản khóa luận chưa thể hiện đầy đủ chu kỳ theo dõi vật hậu học liên tục qua nhiều năm và dữ liệu biến động hạt giống qua các mùa vụ khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc hoàn thiện các thí nghiệm gieo ươm, nhân giống nhân tạo Kháo vàng từ hạt; xác định các chỉ tiêu sinh lý hạt giống trong bảo quản; mở rộng phạm vi điều tra mật độ và quy luật phân bố tái sinh trên các dạng lập địa khác nhau ngoài núi đá vôi; đồng thời xây dựng các mô hình khảo nghiệm trồng rừng gỗ lớn bằng loài Kháo vàng nhằm đánh giá tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của loài trong điều kiện nhân tạo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu chuyên khảo phù hợp cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật và Quản lý bảo tồn đa dạng sinh học.

Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao gồm:

  • Quy trình phương pháp luận điều tra thực địa kết hợp giữa ô tiêu chuẩn 1.000 m² và hệ thống ô dạng bản 25 m² khảo sát cây tái sinh xung quanh gốc cây mẹ (trong tán và ngoài tán).
  • Các công thức toán tin lâm học ứng dụng trong đánh giá tổ thành (chỉ số IV%), đa dạng sinh học (Simpson, Shannon – Wiener) và kiểm định phân bố không gian cây tái sinh (tiêu chuẩn Clark – Evans).
  • Dữ liệu định lượng chi tiết về đặc điểm hình thái thân, cành, lá, hoa, quả và lịch biểu vật hậu học của loài Kháo vàng phục vụ công tác thu hái giống cây rừng bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) thuộc họ thực vật nào và được xếp vào nhóm gỗ mấy ở Việt Nam?
Kháo vàng thuộc họ Long não (Lauraceae). Trong bảng phân loại các loại gỗ sử dụng tại Việt Nam, Kháo vàng được xếp vào nhóm VI.

2. Kích thước hình thái trung bình của các cây Kháo vàng tiêu chuẩn điều tra tại Khu bảo tồn Thần Sa – Phượng Hoàng là bao nhiêu?
Theo kết quả đo đếm 9 cây tiêu chuẩn, kích thước trung bình của loài đạt: đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) là 17,92 cm; chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt 11,62 m (phân tích văn bản ghi nhận trung bình 12,88 m); chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) đạt 5,00 m; đường kính tán ($D_t$) đạt 5,39 m.

3. Mùa hoa, mùa quả và thời vụ thu hái quả Kháo vàng diễn ra vào thời gian nào trong năm?
Kháo vàng ra hoa vào tháng 3 - 4, quả chín vào tháng 10 - 11 (vỏ quả chuyển từ màu xanh sang tím đen hoặc vàng nâu, hạt có màu nâu vàng). Thời vụ thu hái quả thích hợp nhất là vào cuối tháng 10 đến đầu tháng 11.

4. Đề tài áp dụng phương pháp nào để bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản điều tra thực địa?
Tác giả thiết lập 9 ô tiêu chuẩn tạm thời diện tích 1.000 m² (50 m × 20 m), chia đều cho 3 dạng địa hình: 3 OTC chân đồi, 3 OTC sườn đồi và 3 OTC đỉnh đồi. Trên mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản 25 m² (5 m × 5 m) tại 4 góc và trung tâm để điều tra cây tái sinh; đồng thời lập thêm các ô dạng bản 25 m² gồm 4 ô trong tán và 4 ô ngoài tán cây mẹ để nghiên cứu tái sinh chuyên biệt của loài Kháo vàng.

5. Điều kiện kinh tế - xã hội tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng tạo ra những áp lực gì đối với tài nguyên rừng?
Khu vực có 4.929 hộ dân sinh sống với 6 dân tộc, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 39% (1.921 hộ), thu nhập bình quân chỉ đạt 3,5 triệu đồng/người/năm và diện tích đất canh tác nông nghiệp bình quân đầu người thấp (khoảng 0,33 ha). Đời sống khó khăn cùng tập quán canh tác nương rẫy, chăn thả tự do và khai thác gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ lúc nông nhàn là áp lực trực tiếp gây suy giảm diện tích và chất lượng rừng của khu bảo tồn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Quân đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận lâm học và thực hiện thành công việc điều tra thực nghiệm đối với loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Công trình cung cấp các dẫn liệu định lượng chuẩn xác về kích thước hình thái thân, cành, lá, hoa quả, vật hậu học và xác lập phương pháp nghiên cứu cấu trúc lâm phần có loài cây này phân bố. Kết quả nghiên cứu là nguồn cứ liệu thực chứng quan trọng phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp trên núi đá vôi và định hướng kỹ thuật gây trồng rừng gỗ lớn bằng loài cây bản địa.