Đặt vấn đề Xã hội hiện nay ngày càng phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng có những như cầu cao hơn về mọi mặt. Cùng với sự phát triển đó thì ngành lâm nghiệp Việt Nam nói chung và toàn thế giới nói giêng cũng đang không ngừng phát triển để đáp ứng như cầu của con người. Con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Vai trò của tài nguyên rừng đối với đời sống con người đã đước nhiều tài liệu đề cập đến và không phải bàn cãi nhiều.
Tuy nhiên dưới nhiều nguyên nhân trược tiếp hay gián tiếp khác nhau đã và đang làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguên này, làm cho tính đa dạng sinh học bị suy giảm trầm trọng. Do vậy việc nghiên cứu đặc điểm lâm học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà lâm nghiệp. Xác định được đặc điểm lâm học của các loài có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thật tác động chính vào rừng. Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) phân bố tự nhiên ở Lào, Campuchia và Việt Nam.
Ở Việt Nam, là loài cây có biên độ sinh thái rộng nên có thể gây trồng ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, có thể trồng ở miền Nam nơi có lượng mưa bình quân từ 800 - 2.500mm/năm, nhiệt độ từ 20 - 270C. Phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Gia lai. Cây cao 25 - 30cm, thân thẳng, thuôn đều, đường kính ngang ngực đạt 60 - 70cm, phân cành cao trên 5m. Vỏ mỏng có mùi thơm, khi già vỏ bong vảy từng mảng.
Trong những năm gần đây, Kháo vàng bị khai thác nhiều dẫn đến phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và số cá thể của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do khai khai thác 2 quá mức vì nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ giảm sút nhanh chóng về số lượng loài ngoài tự nhiên do vậy cần có biện pháp bảo vệ và nhân rộng loài Kháo vàng. Kháo vàng là một loài có giá trị không những về mặt kinh tế mà còn có giá trị về mặt khoa học. Những nghiên cứu về loài Kháo vàng ở nước ta còn nhiều hạn chế, mới chỉ tập chung vào đặc điểm hình thái, nghiên cứu trong giai đoạn vườn ươm các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng có loài Kháo vàng chưa nhiều.
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng Hoàng được thành lập theo Quyết định số 3841/QĐ -UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Theo Trần Xuân Sinh (2004) khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) là khu rừng đặc dụng, diện tích rừng tự nhiên là 17,639ha có mục đích bảo vệ các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và bảo tồn các nguồn gen động vật đặc biệt các loài quý hiếm và đặc hữu. Khu vực này có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính ĐDSH phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá. Theo định hướng phát triển Nông Lâm nghiệp của Bộ NN&PTNT từ nay đến năm 2020 đẩy mạnh công tác kinh doanh trồng rừng gỗ lớn đối với các tỉnh miền núi Việt Nam nơi có thế mạnh về phát triển Lâm Nghiệp trong đó có tỉnh Thái Nguyên.
Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Kháo vàng tại khu BTTN Thần Sa – Phượng là một bước để góp phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển loài này để phục vụ trồng rừng gỗ lớn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Trước thực tiễn đó tôi đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loàiKháo vàng (Machilus bonii Lecomte)tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” 3 1. Mục tiêucủa đề tài - Xác định được một số đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, cấu trúc tầng cây gỗ, đặc điểm tái sinh của loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuấtmột số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyệnVõ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩ của đề tài * Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và tái sinh, đề tài đã xây dựng được cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Kháo vàng. Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu loài cây Kháo vàng. * Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: + Biết được đặc điểm phân bố và đặc điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc, tình trạng và vai trò của loài Kháo vàng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển và bảo tồn. + Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc việc bảo vệ loài Kháo vàng trong tự nhiên, cũng như là gây trồng, gieo ươm để phát triển loài này.
Góp phần vào phát triển nền kinh tế - xã hội của xã, của tỉnh cũng như toàn bộ miền núi phía Bắc. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu về đặc điểm lâm học là con đường tốt nhất và hiệu quả nhất để nghiên cứu một đối tượng cực kỳ phức tạp và ít được hiểu biết như rừng và đời sống của nó. Sau khi xác định được đối tượng nghiên cứu của lâm học là hệ thống phân cấp từ: Cây - Lâm phần - Hệ sinh thái rừng - Vốn rừng tổng thể. Theo quan điểm của nhận thức luận thì các qui luật đúng với các cấp thấp của hệ thống cũng đúng với các cấp có tổ chức cao hơn.
Ví dụ: Các qui luật sinh trưởng, các tương quan giữa cây và lập địa… đúng với từng cây riêng lẻ thì cũng đúng với lâm phần. Tuy nhiên, trong lâm phần, do ảnh hưởng tương tác giữa các cây cá thể với nhau mà có thêm các qui luật mới riêng cho từng lâm phần. Thông qua kết cấu tổ chức không gian và thời gian của các lâm phần, tức là sự sắp xếp bên cạnh nhau của các lâm phần trong không gian và sự kế tiếp nhau về thời gian mà xuất hiện thêm những qui luật mới có tổ chức cao hơn trong các HST rừng và vốn rừng tổng thể. Đây chính là cơ sở để chúng ta xây dựng hệ thống lý thuyết của khoa học lâm nghiệp nói chung và lâm học nói riêng.
Thông qua kết cấu tổ chức không gian và thời gian của các lâm phần, tức là sự sắp xếp bên cạnh nhau của các lâm phần trong không gian và sự kế tiếp nhau về thời gian mà xuất hiện thêm những quy luật mới có tổ chức cao hơn trong các HST rừng và vốn rừng tổng thể. Đây chính là cơ sở để chúng ta xây dựng hệ thống lý thuyết của khoa học lâm nghiệp nói chung và lâm học nói riêng. Theo đó, các lý thuyết về lâm phần, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó.Những nghiên cứu trên thế giới - Việt Nam 2. Những nghiên cứu trên thế giới - Nghiên cứu về đặc điểm sinh học Có rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về các đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của các loài thực vật, có thể kể đến mộtsố công trình nghiên cứu của một số nước trên thế giới như: Thực vật chí Hong Kong(1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ (1874), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 - 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877),Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 - 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977),.Ngoài ra còn có cácp hương pháp nghiên cứu thực nghiệm về sinh thái học thực vật như,W.Lacher (1965) các tác giả đã chỉ rõ sự thích nghi của các loài với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt,chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu, theo E.
Odum (1971) [20] đã phân chia sinh thái học thực vật thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài. Ngoài ra mối quan hệ giữa yếu tố sinh thái, sinh trưởng có thể định hướng bằng các phương pháp toán học thường được mô phỏng, phản ánh các đặc điểm quy luật tương quan phức tạp trong tự nhiên. Mỗi một loài thực vật đều có khả năng tái sinh vì khả năng tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng.
Đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng. Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Việc điều tra cây tái sinh đã được nhiều nhà nghiên cứu thực vật điều tra trong đó có phương pháp “điều tra chuẩn đoán” của Barnard (1955) theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh. Tác giả Vansteenis (1956) [22] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên 6 tục và tái sinh vệt.
Trên những sự điều tra các đặc điểm về tái sinh nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về nguyên nhân và các tài liệu giải thích nguyên nhân tại sao tỷ lệ tái sinh rừng nhiệt đới lại khác nhau như: Richards P.W, 1965 [21], trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng để có những biện pháp tác động phù hợp. Từ đó cho thấy rằng khả năng tái sinh tự nhiên của các loài cây phụ thuộc nhiều vào hệ sinh thái rừng.
Khi hệ sinh thái rừng mất đi cũng đồng nghĩa với việc khả năng tái sinh tự nhiên của một số loài cây sẽ giảm.