CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái quát chung về Thuế và thuế Thu nhập cá nhân Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội.
Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước thu một bộ pần của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Từ sự phân tích khái quát đó, có thể thấy, thuế là một khoản thu của ngân sách Nhà nước mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên xã hội. Nhà nước có ba hình thức để huy động tài chính là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp.
Trong đó, hình thức quyên góp tiền, tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức tự nguyện, không mang tính ổn định và lâu dài. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, nhà nước dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách nhà nước. Hình thức nhà nước dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình - chính là thuế. Như vậy, Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc mà tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng cho việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại [26, tr 10].
Bên cạnh đó, Thuế cũng là một công cụ tài chính của nhà nước nhằm quản lý điều tiết nền kinh tế vĩ mô, là một công cụ nhằm khuyến khích đầu tư, tạo môi trường đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế đã có lịch sử hàng trăm năm áp dụng trên thế giới. Mới đầu, Nhà nước thường đánh thuế vào đối tượng dễ đo lường 5 được như đánh thuế trên đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình, các hàng hoá và tàu biển, hoặc số lượng cửa sổ hoặc lò sưởi trong một toà nhà. Thuế thu nhập cá nhân được đưa ra và áp dụng lần đầu tiên tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là ở Vương quốc Anh vào năm 1799 và ở Phổ vào năm 1808.
Ở nước ta cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở, sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có những bước chuyển biến đáng kể, nhưng kèm theo đó là sự phát sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt về tiền lương, tiền công giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh đó, hệ thống chính sách thuế được cải cách lần đầu năm 1990, bên cạnh Luật thuế lợi tức áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Quốc hội uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 27/12/1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/1991, nhằm động viên sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao. Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có năm lần sửa đổi, bổ sung vào tháng 6/1994, tháng 2/1997, tháng 7/1999, tháng 5/2001 và tháng 3/2004. Các lần sửa đổi Pháp lệnh thuế TNCN đã mở rộng phạm vi thu thuế thu nhập cá nhân sang các khu vực hưởng lương khác tại các doanh nghiệp trong nước và một số cơ quan của nhà nước, cá nhân có thu nhập cao, tăng cường công tác quản lý thu nộp thuế, nhưng chủ yếu các lần sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế suất, giãn cách thu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểu thuế.
Cho đến ngày 21/11/2007 Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2009 thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây. Luật thuế TNCN đã khắc phục được rất nhiều nhược điểm của Pháp lệnh như đã quy định rõ ràng hơn về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế được xác định rõ ràng và có nhiều đối tượng chịu thuế mới xuất hiện, thu nhập miễn thuế chính xác hơn và mở 6 rộng diện miễn thuế. thêm vào đó là các quy định mới về giảm trừ cũng như căn cứ tính thuế được đưa ra phù hợp hơn. Nhằm đáp ứng những yêu cầu trong tình hình mới ngày 22/11/2012 Quốc hội đã ban hành Luật số: 26/2012/QH13 Sửa đổi bổ xung một số điều của Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2013.
Luật số 26/2012/QH13 đã đáp ứng được những thay đổi trong nền kinh tế của nước ta, cũng như khắc phục một số điểm tại Luật thuế TNCN. Thuế TNCN là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân các thu nhập đó có thể là tiền công, chuyển nhượng,. trong một thời kỳ nhất định trong năm hoặc cả năm như vậy có thể định nghĩa Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân trong kỳ tính thuế nhất định [23, tr 237]. Vai trò, đặc điểm của thuế TNCN 1.
Vai trò của thuế TNCN Thuế TNCN là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được. * Đối với nền kinh tế - xã hội - Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước: Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách lớn. - Góp phần thực hiện công bằng xã hội: thể hiện qua biểu thuế lũy tiến từng phần, thuế TNCN đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội. - Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: - Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp * Đối với hệ thống thuế - Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác 7 Một số thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt) có tính lũy thoái, ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa sẽ đều phải chịu mức thuế như nhau.
- Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Hạn chế được trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi trả cho cá nhân làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp thì các cá nhân được nhạn khoản trả trên sẽ nộp thêm thuế thu nhập tương ứng với phần tăng thêm đó. Đặc điểm của thuế TNCN Thuế TNCN là thuế trực thu, người chịu thuế cũng là người nộp thuế và khó có thể chuyển dịch gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác. Là sắc thuế có độ nhạy cảm cao và liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế, liên quan hầu hết các cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất thuế trực thu của thuế TNCN.
Thuế TNCN đánh thuế theo nguyên tắc có xem xét đến khả năng trả thuế hay hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế, thường mang tính chất lũy tiến cao, thuế suất được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các cá nhân phải nộp thuế. Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ bởi thuế TNCN không phải là yếu tố cấu thành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ. Nội dung Luật thuế thu nhập cá nhân 1. Người nộp thuế Thu nhập cá nhân Cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Cá nhân cư trú: là các cá nhân có mặt tại Việt nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên đến Việt Nam, ngày đến và ngày đi được tính là 01 ngày.
Có nơi ở đăng ký thường xuyên theo quy định của pháp luật với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế. Trong trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định nhưng thực tế 8 có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam. Cá nhân không cư trú: là cá nhân không đáp ứng được một trong các điều kiện của quy định về cá nhân cư trú. Người nộp thuế Người nộp thuế là người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, tiền lương, tiền công.
Như vậy đối tượng thuộc điện nộp thuế thu nhập cá nhân là rất lớn. Tuy nhiên do đặc tính của thuế TNCN là điều tết dựa trên khả năng thu nhập và yếu tố hoàn cảnh của người nộp thuế nên theo quy định hiện hành không phải tất cả các cá nhân có thu nhập đều phải nộp thuế. Ngoài các cá nhân, hộ gia đình có các khoản thu nhập thuộc diện được miễn thuế, chỉ thực hiện điều tiết đối với những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập đến mức phải kê khai, nộp thuế. Thu nhập được miễn thuế TNCN * Miễn thuế cho các khoản thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng là bất động sản.
Bất động sản bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai giữa một số thân nhân trong gia đình. Luật thuế TNCN quy định thu nhập miễn thuế từ chuyển nhượng bất động sản và thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng, cha mẹ để với con đẻ, cha mẹ nuôi với con nuôi, cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ vợ với con rể, ông bà nội với cháu nội, ông bà ngoại với cháu ngoại, anh chị em ruột với nhau. * Miễn thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp cá nhân chuyển nhượng bất động sản là nhà ở, quyền sử dụng đất ở duy nhất tại Việt Nam.