CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp - Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời [10, tr 5]. - Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp: “Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp.
Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp”. Chức năng của tài chính doanh nghiệp - Chức năng tạo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh: tài chính doanh nghiệp thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, tổ chức huy động và sử dụng đúng đắn nhằm duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền: thu nhập đạt được do quá trình bán hàng trước tiên phải được bù đắp vào chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như hao mòn máy móc thiết bị, mua máy móc thiết bị, trả lương, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, phần còn lại thực hiện các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn và trả lợi tức cổ phần. - Chức năng kiểm tra bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nội dung tài chính doanh nghiệp [9, tr 7] 1. Lựa chọn và quyết định đầu tư Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn. Quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như đầu 5 tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới v. Để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tài chính.
Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và thu nhập do đầu tư đưa lại hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính. Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư. Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn. Tài chính doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ (bao gồm vốn ngắn hạn và vốn dài hạn).
Tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho hoạt động của doanh nghiệp. Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn v. Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền mặt, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp. Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Qua phân tích cần đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, những điểm mạnh, điểm yếu trong quản lý và dự báo trước tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp kịp thời đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp.
Năng lực tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về năng lực tài chính trong doanh nghiệp Theo từ điển Tiếng việt thì “Năng lực là khả năng đủ để làm một công việc nào đó” hay “Năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Tài chính như đã đề cập ở phần trên là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội, nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của chủ thể trong xã hội. Vậy, năng lực tài chính là khả năng tài chính của doanh nghiệp thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả.
[17, tr 38] 7 Nghĩa là năng lực tài chính trong doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời v. đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp 1. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán [1,tr 125] Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: T HC = (1.1) N Trong đó: Hc: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát T: Tổng tài sản N: Tổng Nợ phải trả Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu này cho biết với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phải trả hay không. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn T1 HNH = (1.2) N1 Trong đó: HNH: Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn T1: Tài sản ngắn hạn N1: Nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán hiện hành là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp. Nợ ngắn hạn là 8 những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Hệ số khả năng thanh toán nhanh T1 - H HN = (1.3) N Trong đó: HN: Hệ số khả năng thanh toán nhanh H: Hàng tồn kho Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp, phản ánh khả năng trả ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ mà không cần dựa vào việc bán các loại vật tư và hàng hóa.
Hệ số này được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, chúng được gọi là những “tài sản có tính thanh khoản”, “tài sản có tính thanh khoản” bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho. Hệ số khả năng thanh toán tức thời M HT = (1.4) N Trong đó: HT: Hệ số khả năng thanh toán tức thời M: Tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện có và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp. Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thời gian 3 tháng như chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu, nợ phải thu ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn khác… Đây là các tài sản có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp.
9 Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn T2 HDH = (1.4) N2 Trong đó: HDH: Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn T2: Tài sản dài hạn N2: Nợ dài hạn Hệ số thanh toán nợ dài hạn là chỉ tiêu cho biết với số tài sản dài hạn hiện có, doanh nghiệp có đủ khả năng trang trải nợ dài hạn hay không. Trị số của chỉ tiêu càng cao, khả năng đảm bảo thanh toán nợ dài hạn càng lớn. Hệ số giới hạn đầu tư an toàn vào tài sản dài hạn T2 HĐT = (1.5) N2 + V Trong đó: HĐT: Hệ số giới hạn đầu tư an toàn vào tài sản dài hạn V: Vốn chủ sở hữu Để đảm bảo khả năng thanh toán nợ dài hạn mà không ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, tránh cho doanh nghiệp không bị rơi vào tình trạng phá sản, các nhà quản lý cần phải xác định giới hạn đầu tư an toàn vào tài sản dài hạn. Nguyên tắc đầu tư tài sản dài hạn đòi hỏi tổng các khoản nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu phải luôn luôn lớn hơn hoặc bằng tổng giá trị tài sản dài hạn.
Các chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính [1,119] Hệ số tài trợ V HTT = (1.6) NV 10 Trong đó: HTT: Hệ số tài trợ V: Vốn chủ sở hữu NV: Tổng nguồn vốn Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số nợ N Hệ số nợ = (1.7) T Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn của doanh nghiệp hay trong tài sản của doanh nghiệp bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả.