CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái quát chung về vốn kinh doanh của Doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của vốn kinh doanh 1. Khái niệm Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn.
Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.Samuelson, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh để sinh lời cho doanh nghiệp. Đặc điểm Để quản lý và sử dụng vốn hiệu quả, ta cần hiểu rõ các đặc điểm của vốn: [8,9] - Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, vốn được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của Doanh nghiệp. - Vốn phải được vận động để sinh lời. - Vốn phải được tích tụ và tập trung với một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư SXKD.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian, khi bỏ vốn vào đầu tư cần tính đến giá trị và hiệu quả của đồng vốn. - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định. - Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt có thể mua hoặc bán quyền sử dụng vốn trên thị trường tạo nên sự hoạt động của thị trường vốn. - Vốn được biểu hiện bằng tiền của tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Phân loại vốn[1], [4] 1. Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển: Theo cách phân loại này có hai loại vốn là vốn cố định và vốn lưu động. a) Vốn cố định: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư mà doanh nghiệp dùng để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng. Đặc điểm của vốn cố định thể hiện bằng đặc điểm của TSCĐ - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD.
- Vốn cố định được luân chuyển từng phần trong các chu kỳ sản xuất. - Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành 1 vòng luân chuyển. b) Vốn lưu động: Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn đầu tư của Doanh nghiệp dùng để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động dùng cho sản xuất và lưu thông để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên liên tục Tài sản lưu động trong quá trình sản xuất là những tài sản nằm trong quá trình dự trữ và quá trình sản xuất như: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng sửa chữa và thay thế, các công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và các khoản chi phí chờ kết chuyển. Tài sản lưu động trong quá trình lưu thông là những tài sản dùng để lưu thông và tiêu thụ sản phẩm như: thành phẩm và hàng hóa mua ngoài, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn bằng chứng khoán, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản tạm ứng của Doanh nghiệp.
Như đã phân tích phần trên, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trước cho các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. Song mỗi yếu tố sản xuất có những đặc điểm hoạt động khác nhau, có công dụng kinh tế khác nhau 6 đối với quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động là bộ phận của vốn nhằm tài trợ cho các yếu tố sản xuất ngoại trừ tài sản cố định. Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn Theo căn cứ này, vốn kinh doanh được chia thành hai nguồn là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
a) Nguồn vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạn, bao gồm: vốn điều lệ, vốn tự bổ sung, vốn doanh nghiệp nhà nước tài trợ (nếu có). Trong đó: - Nguồn vốn điều lệ: Trong các doanh nghiệp tư nhân vốn đầu tư ban đầu do chủ sở hữu đầu tư. Trong các doanh nghiệp Nhà nước vốn đầu tư ban đầu do Nhà nước cấp một phần (hoặc toàn bộ). - Nguồn vốn tự bổ sung: bao gồm tất cả các nguồn vốn mà doanh nghiệp tự bổ sung từ nội bộ doanh nghiệp như từ lợi nhuận để lại, quỹ khấu hao, các quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển.
Nguồn vốn chủ sở hữu là một nguồn vốn quan trọng và có tính ổn định cao, thể hiện quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng của nguồn vốn này trong cơ cấu nguồn vốn càng lớn, sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. b) Nợ phải trả: Là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế, bao gồm: - Nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp: Trong quá trình SXKD của doanh nghiệp đương nhiên phát sinh các quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các tác nhân kinh tế khác như với Nhà nước, với CBCNV, với khách hàng, với người bán từ đó mà phát sinh vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Thuộc về vốn chiếm dụng hợp pháp có các khoản vốn sau: + Các khoản nợ khách hàng chưa đến hạn trả.
+ Các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước chưa đến hạn nộp. 7 + Các khoản phải thanh toán với CBCNV chưa đến hạn thanh toán. Nguồn vốn chiếm dụng chỉ mang tính chất tạm thời, doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng trong thời gian ngắn nhưng vì nó có ưu điểm nổi bật là doanh nghiệp không phải trả chi phí sử dụng vốn, đòn bẩy tài chính luôn dương, nên trong thực tế doanh nghiệp nên triệt để tận dụng nguồn vốn này trong giới hạn cho phép nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà vẫn đảm bảo kỷ luật thanh toán. - Các khoản nợ vay: bao gồm toàn bộ vốn vay ngắn - trung - dài hạn ngân hàng, nợ trái phiếu và các khoản nợ khác.
Thông thường, một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định tài chính của người quản lý trên cơ sở điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Làm thế nào để lựa chọn được một cơ cấu tài chính tối ưu? Đó là câu hỏi luôn làm trăn trở các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp bởi sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự khôn ngoan hay khờ dại của doanh nghiệp đó khi lựa chọn cơ cấu tài chính. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn a) Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản thân doanh nghiệp bao gồm: tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng, thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ.
b) Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài gồm: vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh liên kết, vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp và các khoản nợ khác. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: a) Nguồn vốn thường xuyên: Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian dài, bao gồm: Nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn. Nguồn vốn này thường được sử dụng để đầu tư TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên, cần thiết. b) Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, lập kế hoạch tài chính và hình thành những dự định về tổ chức vốn một trong tương lai. Vai trò của vốn trong kinh doanh Vốn là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Không có vốn không thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Mục tiêu cuả hiệu quả sử dụng vốn: Mục tiêu cuối cùng của hiệu quả sử dụng vốn là Bảo toàn và phát triển vốn tại Doanh nghiệp.
Bảo toàn và phát triển vốn là nghĩa vụ của Doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào Doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho Doanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Doanh nghiệp. Trước hết, ta tìm hiểu khái niệm về hiệu quả[9], [10] Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng và tính hữu ích của việc sử dụng các yếu tố chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất, được xác định bằng mối quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của một 9 hệ thống kinh tế trong một thời gian nhất định.
Hiệu quả chỉ đạt được khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào. Hiệu quả sử dụng vốn của Doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được với lượng vốn kinh doanh đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong mỗi thời gian nhất định. Hiệu quả sử dụng vốn liên quan tới các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh (đối tượng lao động, tư liệu lao động) cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh hiệu quả. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp - Vòng quay toàn bộ vốn: thể hiện tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh trong kỳ DTT [1,15] (1.