CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về quản lý nguồn nhân lực 1. Nhân lực Để phát triển, mỗi quốc gia đều phải dựa vào các nguồn lực cơ bản như : tài nguyên thiên nhiên , nguồn nhân lực ,tiềm lực về khoa học công nghệ ,cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn. trong đó nguồn nhân lực luôn là nguồn lực cơ bản và chủ yếu nhất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia .Đứng trên góc độ khác nhau, khi nghiên cứu về nhân lực các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và điều kiện thực tế.
“Nhân lực hay lực lượng lao động bào gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật ,có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc”.[5,Tr7] Đối với doanh nghiệp “ nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó ,còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người ,mà nguồn lực thì bao gồm thể lực và trí lực” [6,tr.6] Mặc dù ,Nhân lực được xét đến với nhiều khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau đó là nhân lực thể hiện khả năng lao động trong xã hội .Nhân lực là tài nguyên quan trọng và quý giá nhất để đánh giá tiềm lực phát triển của mỗi quốc gia ,mỗi vùng ,ngành,địa phương,mỗi doanh nghiệp .Nhân lực là nguồn lực phong phú nhất và đa dạng nhất so với các loại tài nguyên khác. Quản lý nguồn nhân lực Có nhiều cách phát biểu về Quản lý nguồn nhân lực do ảnh hưởng cách tiếp cận và nhận thức khác nhau. Một trong những khái niệm thường dùng đó là: “Quản lý nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết 5 định quản lý liên quan đến ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên của nó”[7,tr13]. Ngày nay khái niệm hiện đại về Quản lý nguồn nhân lực là: “Quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được những mục tiêu của cá nhân”[6,tr12].
Quản lý nhân lực với mục đích nhằm sử dụng tối đa hiệu quả nguồn nhân lực của doanh nghiệp và cung cấp cho doanh nghiệp nguồn nhân lực có hiệu quả trên cơ sở đóng góp có hiệu quả của từng cá nhân người lao động,quản lý nhân lực trong doanh nghiệp liên quan tới 2 vấn đề. - Thứ nhất là quản lý con người: là việc quản lý hằng ngày đối với tập thể người lao động, xây dựng những ê kíp, điều động,điều phối tạo ra trong doanh nghiệp .có khả năng phát hiện ra những sai sót về mặt kinh tế ký thuật. - Thứ hai là tối ưu hóa nguồn lực: Là công tác sắp đặt những người có trách nhiệm ,kỹ thuật cụ thể và những công cụ để nắm được những thông số khác nhau trong quản lý. Tuy nhiên ,khái niệm và thực tiễn áp dụng trong quản lý nguồn nhân lực không giống nhau ở các quốc gia khác nhau.
Trong một nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt nam thì khái niệm quản lý nguồn nhân lực được hiểu là :”Quản lý nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt dộng chức năng về thu hút ,đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” 1. Các đặc trưng cơ bản về nguồn nhân lực a. Số lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số.
Xét trong phạm vi một tổ chức thì số lượng nguồn nhân lực là tổng số người được tổ chức thuê, được trả công và được ghi vào danh sách nhân lực 6 của tổ chức. Xét trong phạm vi quốc gia thì số lượng nguồn nhân lực hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. - Thể lực nguồn nhân lực.
Một trong những tiêu chí nói lên chất lượng nguồn nhân lực là tình trạng thể lực của người lao động, bao gồm các yếu tố như chiều cao, cân nặng, sức khỏe. Các yếu tố này phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện như: Mức sống, thu nhập, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế và các dịch vụ khác - Trình độ học vấn của nguồn nhân lực. Chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là trình độ văn hoá nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Trình độ văn hoá là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật, đào tạo và tái đào tạo nghề nghiệp.
Công tác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao trình độ dân trí và trình độ học vấn cho người lao động. Giáo dục và đào tạo phải theo kịp và phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế. Đầu tư cho đào tạo là đầu tư trực tiếp, cơ bản và lâu dài vì sự phồn vinh của đất nước đó là đầu tư cơ sở hạ tầng, đó là đầu tư về con người. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là trình độ hiểu biết, khả năng vận dụng, áp dụng khoa học kĩ thuật tiến bộ về một số chuyên môn nào đó và hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho tổ chức đó. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động được thể hiện 7 thông qua cơ cấu lao động được đào tạo ở các cấp bậc khác nhau. Ở nước ta số lượng lao động qua đào tạo nghề bình quân của cả nước chỉ khoảng 17%, còn 83% lao động còn lại không có chuyên môn kĩ thuật. Con số này cho thấy chất lượng nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn rất thấp.
Cơ cấu nguồn nhân lực Cơ cấu cấp bậc nguồn nhân lực: bao gồm số lượng nhân lực được phân chia từ cấp cao đến cấp thấp và đến nhân viên, người lao động trong tổ chức. Cơ cấu này phản ánh các bước thăng tiến nghề nghiệp của nguồn lực trong tổ chức. Cơ cấu tuổi nguồn nhân lực: được biểu thị bằng số lượng nhân lực ở những độ tuổi khác nhau. Theo số liệu thống kê, hiện nay Việt Nam có cơ cấu lao động rất trẻ, 50% dưới độ tuổi 25.
Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,4 triệu thanh niên tham gia vào thị trường lao động, điều này cho thấy nguồn nhân lực của Việt Nam rất dồi dào, tuy nhiên chất lượng còn thấp và tỉ lệ thất nghiệp còn khá cao. Theo ước tính, cả nước có tới 5% thanh niên thất nghiệp và 26% thường xuyên thiếu việc làm. Điều đó cho thấy đây thực sự là điều đáng lo ngại về chất lượng nguồn nhân lực của đất nước trước ngưỡng cửa hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới. Mục tiêu và chức năng của Quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực Mục tiêu kinh tế. Nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả nhất sức lao động từ đố mà tăng doanh thu giảm chi phí trong quản lý. Thoả mãn nhu cầu trang trải chi phí, tái tạo sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động, ổn định kinh tế gia đình. Mục tiêu xã hội.
Nhằm tạo công ăn việc làm, giáo dục và động viên người lao động phát triển phù hợp với tiến bộ xã hội. Ngược lại thông qua quản lý nguồn nhân lực thực hiện trách nhiệm của Nhà Nước, của tổ chức với người lao động. Để đạt 8 được mục tiêu này càn có các hoạt động hỗ trợ như: tuân thủ pháp luật, trật tự xã hội, tổ chức các hoạt động xã hội và dịch vụ trong doanh nghiệp, xác lập và giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa tổ chức công đoàn và các cấp quản lý doanh nghiệp. Mục tiêu củng cố và phát triển tổ chức.
QTNL là một lĩnh vực của quản lý doanh nghiệp và cũng là một phương tiện để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, là nhân tố để khẳng định về tình hình của tổ chức, tình hình mục tiêu kinh doanh. Để đạt được mục tiêu cần thực hiện các hoạt động bổ trợ như: kế hoạch hoá nguồn nhân lực, tuyển chọn, đánh giá, đào tạo, phân công, bố trí, phát triển nhân lực và thực hiện kiểm tra giám sát. Mục tiêu thực hiện các chưc năng, nhiệm vụ của tổ chức. Mỗi doanh nghiệp đều có một cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý mà trong đó cần có sự thống nhất về lao động tổ chức.
Và hiệu lực của bộ máy tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào năng lực, trình độ tổ chức của các quản lý gia cấp cao, cấp trung bình và cả cấp cơ sở. Chỉ qua hoạt động quản lý nguồn nhân lực mới đáp ứng nhu cầu quản lý này. Mục tiêu phục vụ nhân viên. Nhà quản lý giúp nhân viên mình đạt được các mục tiêu cá nhân của họ.
Muốn vậy nhà quản lý phải nhận thức được các mục tiêu của nhân, để đạt được mục tiêu các nhà quản lý phải quan sát để nắm bắt được tâm lý của nhân viên từ đó mà có biện pháp để họ có thái độ tích cực với công việc, có chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý để nhân viên có thể gắn bó và cống hiến sức mình cho tổ chức.Chức năng của quản lý nguồn nhân lực - Chức năng thu hút,tuyển chọn và bố trí nhân lực. Chức năng này nhằm đảm bảo đủ số lượng nhân viên với trình độ, kỹ năng, phẩm chất phù hợp với công việc và bố trí họ vào đúng công việc để đạt hiệu quả cao nhất. 9 - Chức năng đào tạo và phát triển. Nhóm chức năng này nhằm nâng cao trình độ lành nghề, các kỹ năng và các nhận thức mới cho nhân viên.
Đào tạo, phát triển hướng đến nâng cao các giá trị cảu tài sản nhân lực cho doanh nghiệp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cũng như tăng khả năng thích ứng với môi trường thay đổi.