CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Khái quát chung về Doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp - Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. - Theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của Công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.
- Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat – NXB Khoa Học Xã Hội 1992 ) - Theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. 7 Từ cách nhìn nhận như trên có thể định nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Đặc trưng của Doanh nghiệp Doanh nghiệp Việt Nam có 05 đặc trưng cơ bản sau: - Hình thức sở hữu: có sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp. - Hình thức pháp lý: Các Doanh nghiệp được hình thành theo Luật doanh nghiệp và những văn bản dưới Luật. - Lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động: Doanh nghiệp chủ yếu phát triển ở ngành dịch vụ, thương mại (buôn bán). Ở lĩnh vực sản xuất chế biến và giao thông (tập trung ở 03 ngành: Xây dựng, công nghiệp; Nông, lâm nghiệp; Thương mại, dịch vụ) địa bàn hoạt động chủ yếu ở các thị trấn, thị tứ và đô thị.
- Công nghệ và thị trường: Các Doanh nghiệp phần lớn có năng lực tài chính rất thấp, có công nghệ thiết bị lạc hậu,chủ yếu sử dụng lao động thủ công. Sản phẩm của các Doanh nghiệp hầu hết tiêu thụ ở thị trường nội địa, chất lượng sản phẩm kém; mẫu mã, bao bì còn đơn giản, sức cạnh tranh yếu. Tuy nhiên có một số ít Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông lâm, hải sản có sản phẩm xuất khẩu với giá trị kinh tế cao. - Trình độ tổ chức và quản lý: Trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp và yếu (thuê lao động thường xuyên và thời vụ thường chưa qua lớp đào tạo,bồi dưỡng ).
Hầu hết các Doanh nghiệp hoạt động độc lập, việc liên doanh liên kết còn hạn chế và có nhiều khó khăn. Phân loại Doanh nghiệp Tùy theo những tiêu chí khác nhau có những cách phân loại doanh nghiệp khác nhau. Thứ nhất, xét về dấu hiệu sở hữu (căn cứ vào chủ sở hữu phần vốn thành lập nên doanh nghiệp) ta có những loại doanh nghiệp sau: - Doanh nghiệp Nhà nước: là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, từ đó Nhà nước giữ quyền chi phối nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tập thể: được hình thành do các thành viên cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. - Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội: là doanh nghiệp được thành lập từ nguồn kinh phí của các tổ chức chính trị xã hội. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: là những doanh nghiệp mà nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ toàn bộ hay một phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Thứ hai, xét về số lượng chủ sở hữu đầu tư vốn, gồm: - Doanh nghiệp một chủ: là doanh nghiệp chỉ do một chủ duy nhất đầu tư vốn thành lập.
Theo nghĩa này những Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp tư nhân hay Công ty Nhà nước là những loại hình doanh nghiệp một chủ. - Doanh nghiệp nhiều chủ: là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các thành viên, thể hiện qua việc cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên hay công ty hợp danh theo Luật Việt Nam. 9 Thứ ba, xét về quy mô của doanh nghiệp, căn cứ vào tổng số vốn đầu tư, số lượng lao động, doanh thu, lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp có thể chia ra các loại doanh nghiệp sau: - Doanh nghiệp quy mô lớn; - Doanh nghiệp quy mô vừa; - Doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Thứ tư, căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản của các chủ thể kinh doanh, có thể chia thành: - Loại doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu đầu tư vốn chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã đầu tư thành lập doanh nghiệp (vốn điều lệ).
- Loại doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu đầu tư vốn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Mục tiêu, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Doanh nghiệp 1. Mục tiêu của Doanh nghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp là toàn bộ kết quả cuối cùng hay trạng thái mà doanh nghiệp muốn đạt tới trong một khoảng thời gian nhất định. Mỗi một Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đều có những mục tiêu chung và mục tiêu riêng của của mình.
Tùy theo từng thời điểm mà mục tiêu của doanh nghiệp hướng tới sẽ khác nhau. Trong thời gian khởi đầu sự nghiệp sản xuất, kinh doanh mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận để chi trả nhân công, vật liệu và thu hồi vốn đầu tư. Khi đã phát triển hơn và có chỗ đứng vững chắc, khẳng định được tên tuổi của doanh nghiệp trên thương trường thì ngoài mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp sẽ hướng mục tiêu của doanh nghiệp tới tầm 10 cao hơn, với những mục tiêu có ý nghĩa về chính trị, xã hội, xây dựng môi trường trong sạch. Đặc biệt, khi nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm mà nhu cầu sử dụng tài nguyên phục vụ cho đời sống con người ngày càng cao thì để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần phải đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ quản lý, sản xuất mới nhằm mục tiêu chỉ sử dụng ít tài nguyên mà sản phẩm lại có chất lượng tốt hơn, thời gian sử dụng bền hơn.
Vai trò của Doanh nghiệp Trong nền kinh tế Quốc dân, doanh nghiệp là một bộ phận chủ yếu tạo ra Tổng sản phẩm quốc nội (GDP: Gross Domestic Product). Thông qua đường lối của Đảng, chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước hoạt động của doanh nghiệp có tính quyết định trong việc giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao và tác động tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như biến đổi các vấn đề đời sống xã hội. Hoạt động của doanh nghiệp góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định phục hồi, tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo cho người lao động. Chức năng của Doanh nghiệp Doanh nghiệp trong nền kinh tế có những chức năng cơ bản sau: - Chức năng sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ: thông qua các yếu tố đầu vào như nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư nguyên, nhiên vật liệu, nhân công, nhà xưởng, máy móc, công nghệ…các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho thị trường.
- Chức năng lưu chuyển, phân phối hàng hóa: sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sau khi được hoàn thiện tại cơ sở sản xuất cần phải được vận chuyển, phân 11 phối đến nơi tiêu dùng. Doanh nghiệp làm nhiệm vụ lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ căn cứ theo nhu cầu của khách hàng về mục đích sử dụng, chủng loại, số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm giao nhận để chuyển giao sản phẩm hàng hóa, dịch vụ với chi phí vận chuyển, giá cả hợp lý mà khách hàng có thể chấp nhận được. - Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông: trong quá trình thực hiện việc lưu thông sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ lĩnh vực sản xuất, cung ứng đến lĩnh vực tiêu dùng các doanh nghiệp cần phải thực hiện việc phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm…Đây chính là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong quá trình lưu thông. Chức năng này nhằm hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ ở dạng tốt nhất để sản phẩm, dịch vụ thích hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.
Mặt khác, trong quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa, các doanh nghiệp còn phải thực hiện việc tổ chức sản xuất, đầu tư, khai thác tạo nguồn hàng để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ thay thế với giá cả phải chăng để chủ động trong nguồn hàng và thích hợp với nhu cầu của khách hàng.