CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi tham gia vào một hoạt động, mỗi cá nhân đều có động cơ và mục đích riêng. Song nếu có sự hứng thú, say mê của cá nhân thì chắc chắn hoạt động đó sẽ mang lại hiệu quả cao nhất.
Bởi hứng thú có vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động của con người nên nhiều nhà tâm lí học đã nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú của trẻ mẫu giáo nói riêng. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Có thể khái quát lịch sử nghiên cứu hứng thú trên thế giới chia làm các khuynh hướng sau: Nghiên cứu bản chất tâm lý của hứng thú, có một số tác giả tiêu biểu như: E.Strong (1931) trong công trình nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú theo lứa tuổi”; A.Beliaep (1994) trong luận án tiến sĩ về “Tâm lý học hứng thú”; J.Dupont (1979) trong tác phẩm “Tâm lý học hứng thú;… đã đưa ra quan niệm như là một khuynh hướng, một nguyện vọng, một xu hướng. Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của hứng thú, có thể kể đến một số tác giả như: V. Ivanop (1956) nghiên cứu “Sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh các lớp trong trường trung học”; N.
Marozova (1967) nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú ở trẻ em trong điều kiện phát triển bình thường và không bình thường”; G. Sukina (1971) nghiên cứu hứng thú riêng lẻ của từng trẻ em ở các lứa tuổi. Nghiên cứu mối liên hệ giữa hứng thú với việc hình thành và phát triển nhân cách, bao gồm các tác giả tiêu biểu: A. Ackhutop (1955) nghiên cứu “Sự phụ thuộc giữa tri thức của học sinh và hứng thú học tập”; LuKin, Levitop (1970) Nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ với năng lực”; Bogoxlovxki (1973) với vấn đề: Hứng thú là sự biểu lộ cảm xúc của những nhu cầu nhận thức của con người; cùng quan điểm này còn có L.
Nghiên cứu hứng thú nhận thức của học sinh, có N. Marozova (1967) nghiên cứu “Tác dụng của dạy học nêu vấn đề đến hứng thú nhận thức của học sinh”. Anherxki “Bàn về vấn đề giáo dục hứng thú cho học sinh cấp 1 và 11 trung học”; L.Serop nghiên cứu “Hứng thú của học sinh ngoài nhà trường”; Fancop nghiên cứu “Giáo dục hứng thú nhận thức cho học sinh các lớp 6, 7 trong công tác ngoài nhà trường”; N. Slavina tìm hiểu “Hứng thú trong việc nâng cao khả năng học tập của người học”.
- Nghiên cứu về hứng thú ở trẻ mẫu giáo, có một số công trình tiêu biểu sau: L. Xalonhisuva nghiên cứu “Sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo”; N.Marozova (1967) nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú ở trẻ em trong điều kiện bình thường và không bình thường”; G.Sukina (1971) nghiên cứu hứng thú riêng lẻ của trẻ em ở các lứa tuổi… Các nhà tâm lý học trên thế giới qua các nghiên cứu của mình đã xây dựng nên những cơ sở lý luận và thực tiễn ban đầu về hứng thú nói chung, họ đã đưa ra các quan niệm về hứng thú, các biểu hiện của hứng thú, cách phân loại hứng thú,… Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi căn cứ vào đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu về hứng thú. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Tại Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú, được phân loại theo các xu hướng sau: - Xu hướng 1: Nghiên cứu hứng thú học tập các bộ môn của học sinh Trong khoảng 30 năm trở lại đây, có một số công trình nghiên cứu theo xu hướng này, bao gồm: Năm 1972, Nguyễn Hải Khoát nghiên cứu “Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh”. Năm 1975, tác giả Nguyễn Hữu Long đã nghiên cứu hứng thú học tập bộ môn “Tâm lý học của sinh viên Đại học Sư phạm và sư phạm và đề xuất cách tác động đến hứng thú bằng cách hướng dẫn phương pháp học tập cho sinh viên.
Năm 1977, Phạm Huy Thụ trong luận văn “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp 2 một số trường tiên tiến” đã điều tra hứng thú học tập các môn của 3 trường tiên tiến và đề xuất các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh. Tác giả Lê Bá Chương đưa ra 2 biện pháp tác động đến hứng thú trong luận văn “Bước đầu tìm hiểu về dạy học Tâm lý học để xây dựng hứng thú học tập bộ môn” bao gồm trang bị tri thức mới, cách nhìn mới về Tâm lý học và tiến hành dạy 12 học nêu vấn đề. Năm 1987, tác giả Nguyễn Khắc Mai với đề tài “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục”. Năm 1994, tác giả Hoàng Hồng Liên đã chỉ ra biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học sinh chính là dạy học trực quan trong nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông”.
- Xu hướng 2: Nghiên cứu hứng thú với nghề nghiệp Năm 1973, Phạm Tất Dong đã đề cập đến hứng thú học tập các bộ môn của học sinh là cơ sở để các nhiệm vụ hướng nghiệp một cách khoa học trong luận văn “Vài đặc điểm hứng thú nghề nghiệp của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp”. Đến năm 1981, tác giả Phùng Minh Nguyệt với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm của giáo sinh Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”. Năm 1988, Hoài Thị Kim Thu Có đề tài “Việc hình thành hứng thú nghề nghiệp cho học sinh qua giảng dạy môn vật lý”. * Một số công trình nghiên cứu về hứng thú của trẻ mầm non Năm 2004, TS Hoàng Thị Oanh đã khảo sát mức độ hứng thú của trẻ đối với từng loại trò chơi (vận động, học tập,…) trong đề tài “Tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động chơi của trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn”.
Tạ Thị Huyền với đề tài “Một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi trong hoạt động tạo hình”. Trong những năm gần đây, có khá nhiểu luận văn thạc sĩ nghiên cứu về hứng thú của trẻ mầm non. Cụ thể, năm 1998, Đặng Thị Sáu với đề tài “Một số biện pháp gây hứng thú đối với trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi”. Luận văn đã chỉ ra một trong những yếu tố giữ vai trò đặc biệt quan trọng có tác dụng lôi cuốn trẻ tham gia vào trò chơi đó là phương pháp tổ chức, hướng dẫn trẻ chơi.
Năm 2000, tác giả Đỗ Thị Mỹ Đinh đã nghiên cứu “Một số thủ thuật kích thích hứng thú học tập của trẻ đối với loại tiết học làm quen với thực vật ở lớp mẫu giáo lớn”. Năm 2001, Hoàng Thị Hoài nghiên cứu “Tìm hiểu một vài thủ thâutj nhằm kích thích hứng thú học tập của trẻ 5 - 6 tuổi trong tiết học làm quen với môi trường xung quanh”. 13 Tác giả Lê Thị Hiền đã nghiên cứu “Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi”. Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Thu Hạnh với đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 5 - 6 tuổi khi làm quen với thế giới thực vật”.
Năm 2007, Trần Thị Hồng Minh với đề tài “Nghiên cứu hứng thú của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh”. Tác giả đã chỉ ra môi trường hoạt động, phương pháp tổ chức, bản thân trẻ và nội dung hoạt động có ảnh hưởng lớn đến hứng thú. Phạm Thị Ngọc Châu với đề tài “Một số biện pháp kích thích hứng thúi cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh”. Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú.
Tuy vậy, hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu vấn đề hứng thú nói chung, còn hứng thú đối với trẻ mầm non nói riêng chưa thực sự được khai thác nhiều. Các biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mầm non trong các hoạt động khác nhau cũng đã được đề xuất, tập trung khai thác các tác động đến môi trường hoạt động, đặc điểm của trẻ và nội dung hoạt động. Duy nhất chỉ có một đề tài của tác giả Hoàng Thanh Phương nghiên cứu về hứng thú của trẻ trong hoạt động với đồ vật. Một số vấn đề về hứng thú 1.
Khái niệm hứng thú Có rất nhiều khuynh hướng nghiên cứu khác nhau về hứng thú, điều đó tương ứng với việc đa dạng các định nghĩa hứng thú theo các khuynh hướng đó. Để đưa ra một khái niệm chung nhất về hứng thú thì có thể nói rằng cho đến nay khó có một khái niệm duy nhất, chung về hứng thú. Theo quan điểm của các nhà sinh lý học, đại diện là I. Pavlop , coi hứng thú là cái làm tăng trương lực, kích thích trạng thái hoạt động của vỏ não.
- Một số quan niệm của các nhà tâm lý học phương Tây xem xét hứng thú dưới nhiều góc độ khác nhau: Góc độ thứ nhất, coi hứng thú là một thuộc tính bẩm sinh, vốn có của con người (I. Cùng quan điểm này, S. Klaparet kết luận rằng, hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năng, khát vọng đòi hỏi cần được thỏa mãn của cá nhân. 14 Góc độ thứ hai, xem xét hứng thú dưới góc độ định hướng cá nhân, nhà tâm lý học Fran-Siska, Baumgarten… coi hứng thú như một trường hợp riêng của thiên hướng.
Strong coi hứng thú biểu hiện xu thế con người học một số đối tượng nhất định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướng tích cực vào những hoạt động đó. Ngược lại, D.Super lại khẳng định rằng hứng thú không phải là thiên hướng, không phải là nét tính cách cá nhân, mà nó là một cái gì đó riêng rẽ với thiên hướng, riêng rẽ với tính cách, riêng rẽ với cá nhân. Góc độ thứ ba, xem xét hứng thú dưới góc độ là một hiện tượng phức hợp của con người: C. Buhler cho rằng: Hứng thú là một hiện tượng phức hợp mà cho đến nay vẫn chưa xác định.
Theo tác giả, hứng thú là sự cùng tham gia từ những mức độ khác nhau của cường độ đến mức độ cuốn hút mạnh mẽ. Buhler coi hứng thú là nguồn gốc tinh thần của tính tích cực, là sự sáng tạo tinh thần đối với tài liệu mà mọi người hứng thú với nó tham gia vào.