Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cùng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP/TPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), các giao dịch thương mại gia tăng kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các tranh chấp kinh doanh thương mại. Bên cạnh Tòa án, phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), đặc biệt là trọng tài thương mại (TTTM), ngày càng được các bên ưu tiên lựa chọn nhờ tính bảo mật, tính linh hoạt và tính chuyên môn.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trước khi Hội đồng trọng tài (HĐTT) ban hành phán quyết cuối cùng có ý nghĩa quyết định. Trước đây, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 chỉ trao thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) cho Tòa án. Đến Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010), thẩm quyền này đã được trao thêm cho HĐTT bên cạnh Tòa án. Tuy nhiên, quy định pháp luật thực định vẫn bộc lộ nhiều bất cập: thẩm quyền của HĐTT bị giới hạn ở 06 biện pháp (ít hơn so với Tòa án); Luật TTTM 2010 chưa quy định cụ thể các điều kiện chứng minh nghĩa vụ khi yêu cầu áp dụng; chưa ghi nhận cơ chế Trọng tài viên khẩn cấp (Emergency Arbitrator); dẫn đến việc số lượng vụ việc áp dụng thành công BPKCTT tại HĐTT trên thực tế còn rất hạn chế.

Khóa luận xác định mục đích và 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về BPKCTT trong tố tụng TTTM và pháp luật về BPKCTT trong tố tụng TTTM.
  2. Phân tích quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và quy tắc của các trung tâm trọng tài quốc tế về BPKCTT.
  3. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng TTTM.
  4. Rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về BPKCTT trong tố tụng TTTM, phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật TTTM 2010.

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài, pháp luật Việt Nam điều chỉnh thẩm quyền, danh mục biện pháp, điều kiện áp dụng, biện pháp bảo đảm tài chính, trình tự thủ tục và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Pháp luật quốc tế (Luật Mẫu UNCITRAL) và pháp luật của các quốc gia/vùng lãnh thổ gồm Hoa Kỳ, CHLB Đức, Thụy Sỹ, CHND Trung Hoa, Đặc khu Hành chính Hồng Kông, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Pháp, Úc, Singapore, Thái Lan, cùng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài như ICC, LCIA, HKIAC, SCC, SIAC, VIAC.
  • Thời gian: Khảo sát pháp luật Việt Nam từ mốc năm 2003 (khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại được ban hành) đến năm 2024; pháp luật nước ngoài cập nhật đến các đạo luật sửa đổi mới nhất (như Đạo luật Trọng tài Nhật Bản sửa đổi năm 2023, có hiệu lực từ tháng 4/2024).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai dựa trên các nguồn tài liệu lý luận, văn bản pháp luật thực định và thực tiễn xét xử:

  • Văn bản pháp luật quốc tế và khu vực: Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài Thương mại Quốc tế (sửa đổi năm 2006, đặc biệt là các Điều 9, 17, 17A, 17E, 17G, 17J); Quy chế châu Âu (EU Regulation No 1215/2012); Thỏa thuận hỗ trợ tư pháp lẫn nhau giữa Tòa án Đại lục và Hồng Kông (2019).
  • Văn bản pháp luật nước ngoài: Đạo luật Trọng tài Anh 1996 (English Arbitration Act 1996); Bộ luật Tố tụng Dân sự Đức (ZPO); Luật Tư pháp Quốc tế Thụy Sỹ (PILA); Đạo luật Trọng tài Nhật Bản 2003 (sửa đổi năm 2023); Đạo luật Trọng tài Quốc tế Singapore (IAA); Pháp lệnh Trọng tài Hồng Kông (Cap. 609); Đạo luật Trọng tài Úc 1974; Luật Trọng tài CHND Trung Hoa 2017; Đạo luật Trọng tài Thái Lan 2002; Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp; Bộ luật Tố tụng Dân sự Tây Ban Nha.
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12; Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 (BLTTDS 2015); Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003.
  • Án lệ và thực tiễn giải quyết tranh chấp: Án lệ Geralds Metal v. Timis (Anh); Yahoo v. Microsoft (Tòa án New York); Duro Felguera Australia Pty Ltd v. Trans Global Projects Pty Ltd (Úc); American Cyanamid Co v Ethicon Ltd (Anh); Alain X v Epoux Y (Pháp); Bản án ICC số 9084; Quyết định số 01/2021/QĐ-BPKCTT và Quyết định số 03/2021/QĐ-BPKCTT của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; Vụ việc Shiseido Việt Nam v. Thủy Lộc.

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Tập hợp các giáo trình, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành luật học trong và ngoài nước (công trình của Gary Born, Redfern & Hunter, Deyan Draguiev...).
  • Phương pháp xử lý, tổng hợp thông tin: Phân loại, sắp xếp các quy định pháp lý theo tiến trình lịch sử và cấu trúc nội dung chế định BPKCTT.
  • Phương pháp phân tích, so sánh luật học (Comparative Law): Đối chiếu mô hình lập pháp của UNCITRAL với hệ thống Civil Law (Đức, Pháp, Thụy Sỹ) và Common Law (Anh, Singapore, Hồng Kông), đối chiếu với thực trạng pháp luật Việt Nam để làm rõ sự tương đồng, khác biệt và các khoảng trống lập pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại và lý luận pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết nền tảng về tố tụng TTTM và chế định BPKCTT:

  • Bản chất của TTTM: Là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán tư, xác lập dựa trên sự thỏa thuận của các đương sự. So với Tòa án mang quyền lực nhà nước, TTTM có thẩm quyền theo vụ việc phụ thuộc vào thỏa thuận và quy chế của từng tổ chức (như Hiệp hội Mua bán gạo và lúa mạch - GAFTA, Hiệp hội Trọng tài Hàng hải Luân Đôn - LMAA), đồng thời mang tính bảo mật và tính linh hoạt cao.
  • Khái niệm và đặc điểm BPKCTT: Tác giả định nghĩa BPKCTT trong tố tụng trọng tài là biện pháp được ban hành bởi HĐTT hoặc Tòa án theo yêu cầu của đương sự trong quá trình tố tụng đang diễn ra và trước khi phán quyết cuối cùng được ban hành, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như bảo đảm hiệu quả của thủ tục tố tụng. Ba đặc tính cốt lõi gồm: tính khẩn cấp (nhằm ngăn chặn ngay rủi ro), tính tạm thời (chấm dứt khi lý do áp dụng không còn) và tính chặt chẽ về mặt thủ tục.
  • Điểm khác biệt giữa BPKCTT trong tố tụng Tòa án và tố tụng Trọng tài:
    1. Khởi xướng: Tòa án có quyền tự mình (ex officio) áp dụng BPKCTT trong một số trường hợp theo luật định; ngược lại, HĐTT tuyệt đối không được tự mình áp dụng nếu không có yêu cầu từ đương sự do nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt (party autonomy).
    2. Thời điểm ban hành: Thẩm phán được phân công thụ lý có thể áp dụng BPKCTT trước khi mở phiên tòa sơ thẩm; trong khi ở TTTM, BPKCTT chỉ có thể được quyết định khi HĐTT đã được thành lập hợp lệ (trừ trường hợp quy tắc có cơ chế Trọng tài viên khẩn cấp).
  • Nội dung cơ bản của pháp luật về BPKCTT: Bao gồm 06 nhóm quy định trọng tâm: thẩm quyền áp dụng; danh mục các BPKCTT; điều kiện áp dụng; biện pháp bảo đảm tài chính; trình tự, thủ tục áp dụng; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do yêu cầu hoặc áp dụng sai BPKCTT.

Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại theo pháp luật của một số quốc gia

Chương 2 phân tích sâu kinh nghiệm quốc tế theo từng khía cạnh lập pháp:

Khía cạnh pháp lý Luật Mẫu UNCITRAL 2006 Pháp luật các quốc gia khảo sát tiêu biểu
Thẩm quyền áp dụng Thừa nhận thẩm quyền song song có tính hỗ trợ giữa HĐTT (Điều 17) và Tòa án (Điều 17J). - Thụy Sỹ (Điều 183 PILA), Đức (Điều 1041 ZPO): Thừa nhận quyền rộng rãi của HĐTT.
- Trung Quốc (Điều 28, 46 Luật Trọng tài 2017), Thái Lan: Chỉ duy nhất Tòa án có thẩm quyền áp dụng.
- Anh (s.44 Đạo luật 1996): Tòa án chỉ can thiệp khi có tính khẩn cấp hoặc HĐTT thiếu thẩm quyền (Geralds Metal v. Timis).
- Nhật Bản: Luật sửa đổi 2023 (hiệu lực 2024) quy định thủ tục Tòa án hỗ trợ cưỡng chế thi hành BPKCTT của HĐTT.
Trọng tài khẩn cấp (Emergency Arbitrator) Được quy định trong quy tắc của các tổ chức trọng tài lớn. Singapore (Mục 12(1) IAA) và Hồng Kông (Cap. 609): Công nhận quyết định của Trọng tài viên khẩn cấp có giá trị thi hành tương đương quyết định của Tòa án.
Các nhóm BPKCTT áp dụng 3 nhóm chính: (i) Duy trì/khôi phục hiện trạng; (ii) Ngăn chặn hành vi gây tổn hại; (iii) Bảo toàn chứng cứ và tài sản. - Bảo vệ chứng cứ: Singapore, Anh (s.38).
- Giữ nguyên/khôi phục hiện trạng: Vụ Yahoo v. Microsoft (áp dụng lệnh tiếp tục chuyển tiếp hệ thống), vụ Duro Felguera (phong tỏa tài sản).
- Tạm thời trả tiền: Anh (s.39), Bản án ICC 9084 (chỉ áp dụng với khoản tiền không tranh chấp/đã đến hạn).
- Bảo đảm chi phí tố tụng (Security for costs): Úc (s.23K), Anh (s.38(3)).
Điều kiện áp dụng Điều 17A: Nguy cơ thiệt hại không thể khắc phục được và mức độ thiệt hại vượt trội so với bên bị áp dụng; khả năng hợp lý bên yêu cầu thắng kiện. - Tính khẩn cấp: Pháp, Thụy Sỹ coi là điều kiện tiên quyết.
- Tính tương xứng/cân bằng lợi ích: Luật Anh (án lệ American Cyanamid), Thụy Sỹ, Úc.
Thủ tục không thông báo (Ex parte) Điều 17B (Lệnh sơ bộ - Preliminary orders). Tây Ban Nha (Điều 730), Thụy Điển, Thụy Sỹ cho phép áp dụng không cần thông báo trước trong trường hợp có nguy cơ tẩu tán/hủy hoại chứng cứ nghiêm trọng.
Bảo đảm tài chính & Bồi thường thiệt hại Điều 17E (Bảo đảm bắt buộc/tùy nghi); Điều 17G (Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu biện pháp không phù hợp). Anh, Pháp (án lệ Alain X v Epoux Y), Thụy Sỹ, Đức: Gắn nghĩa vụ bồi thường với mức rủi ro áp dụng sai BPKCTT. Thẩm quyền xác định bồi thường do HĐTT giải quyết.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam

Chương 3 chỉ rõ thực trạng áp dụng BPKCTT tại Việt Nam qua hệ thống quy phạm và các vụ việc thực tế:

  • Về thẩm quyền: Luật TTTM 2010 thiết lập cơ chế đồng thẩm quyền (Điều 49, 53). Cơ quan nào nhận đơn trước sẽ thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, Luật chưa hạn chế thẩm quyền của Tòa án khi HĐTT đã được thành lập hợp lệ; thiếu cơ chế Trọng tài viên khẩn cấp trong giai đoạn trước khi lập HĐTT khiến đương sự bắt buộc phải chọn Tòa án dù muốn bảo mật thông tin.
  • Về danh mục biện pháp: Khoản 2 Điều 49 Luật TTTM 2010 trao cho HĐTT 06 biện pháp:
    1. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
    2. Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định;
    3. Kê biên tài sản đang tranh chấp;
    4. Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
    5. Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
    6. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Hạn chế thực tiễn: HĐTT không có thẩm quyền áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản ngân hàng và phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ (chỉ Tòa án có quyền này theo BLTTDS 2015). Luật chưa có quy định độc lập về biện pháp "bảo vệ chứng cứ" và chưa quy định biện pháp "khôi phục hiện trạng" (chỉ mới dừng lại ở duy trì hiện trạng).
  • Thực tiễn xét xử:
    • Tại Quyết định số 01/2021/QĐ-BPKCTT của TAND TP. Hà Nội: Tòa án áp dụng biện pháp buộc bên thứ ba (ngân hàng) tạm dừng thanh toán thư tín dụng (L/C) và phong tỏa tài khoản tiền gửi.
    • Tại Quyết định số 03/2021/QĐ-BPKCTT của TAND TP. Hà Nội: Tòa án buộc bị đơn không được yêu cầu ngân hàng thanh toán bảo lãnh và giữ nguyên hiện trạng thư bảo lãnh trong vụ tranh chấp tại VIAC.
    • Tại vụ việc Shiseido Việt Nam v. Thủy Lộc: Tòa án ban hành quyết định phong tỏa tài khoản (dưới 13,4 tỷ đồng) và phong tỏa toàn bộ sản phẩm mang nhãn hiệu Shiseido, Clé De Peau Beauté, Issey Miyake... nhưng căn cứ chứng minh sự cần thiết chưa được làm rõ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động doanh nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ bản chất pháp lý của BPKCTT trong tố tụng TTTM: là công cụ bảo đảm quyền tự định đoạt và hiệu lực thi hành phán quyết, mang tính tạm thời và không mang tính định đoạt nội dung tranh chấp.
  2. Làm rõ sự khác biệt giữa 06 biện pháp thuộc thẩm quyền HĐTT theo Điều 49 Luật TTTM 2010 với danh mục các biện pháp theo Luật Mẫu UNCITRAL 2006 và BLTTDS 2015.
  3. Phân tích thực chứng các rào cản khiến đương sự ít yêu cầu HĐTT áp dụng BPKCTT: thiếu cơ chế cưỡng chế trực tiếp, thiếu chế định Trọng tài viên khẩn cấp, HĐTT bị tước quyền áp dụng các biện pháp phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản gửi giữ.

Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Dựa trên bài học kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất 06 nhóm giải pháp sửa đổi Luật TTTM 2010:

  • Bổ sung thẩm quyền: Ghi nhận chế định Trọng tài viên khẩn cấp trong Luật TTTM; phân định ranh giới thẩm quyền theo hướng hạn chế sự can thiệp của Tòa án khi HĐTT đã thành lập hợp lệ (trừ trường hợp khẩn cấp liên quan đến bên thứ ba hoặc cưỡng chế).
  • Mở rộng danh mục BPKCTT: Bổ sung thẩm quyền của HĐTT đối với biện pháp phong tỏa tài khoản ngân hàng, phong tỏa tài sản tại nơi gửi giữ; bổ sung biện pháp "bảo vệ chứng cứ" độc lập và biện pháp "khôi phục hiện trạng" quan hệ hợp đồng.
  • Tiêu chí hóa điều kiện áp dụng: Sửa đổi Khoản 2 Điều 50 Luật TTTM 2010, luật hóa các tiêu chí định lượng gồm: (i) Tính khẩn cấp; (ii) Nguy cơ thiệt hại không thể khắc phục được nếu không áp dụng; (iii) Tính tương xứng và cân bằng lợi ích giữa các bên; (iv) Khả năng hợp lý bên yêu cầu thắng kiện về mặt nội dung.
  • Hoàn thiện quy định bảo đảm tài chính: Quy định linh hoạt các hình thức bảo đảm (bảo lãnh ngân hàng, tài sản tương đương thay vì chỉ đặt cọc tiền mặt), xác định mức bảo đảm tương ứng với thiệt hại ước tính.
  • Cải cách trình tự, thủ tục: Rút ngắn thời hạn xem xét đơn yêu cầu; bổ sung thủ tục ban hành lệnh tạm thời không cần thông báo trước (ex parte) trong các trường hợp có nguy cơ tẩu tán tài sản tức thì.
  • Quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Trao thẩm quyền cho HĐTT phán quyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chi phí phát sinh do yêu cầu BPKCTT không đúng ngay trong phán quyết giải quyết vụ tranh chấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ so sánh quy phạm pháp luật thực định và phân tích một số bản án, quyết định công bố công khai; chưa tiếp cận được toàn diện số liệu thống kê mật về các đơn yêu cầu BPKCTT bị HĐTT từ chối tại các trung tâm trọng tài ở Việt Nam do nguyên tắc bảo mật thông tin trọng tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế công nhận và cho thi hành quyết định áp dụng BPKCTT của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam theo khuôn khổ Công ước New York 1958 và quy định của BLTTDS 2015; nghiên cứu chi tiết quy trình phối hợp cưỡng chế giữa Cơ quan Thi hành án dân sự và HĐTT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với cơ quan lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học, bảng so sánh luật học và kiến nghị điều khoản cụ thể phục vụ quá trình tổng kết, sửa đổi, bổ sung Luật TTTM 2010.
  • Đối với người hành nghề luật (Luật sư, Trọng tài viên): Cung cấp phân tích thực tiễn áp dụng các biện pháp cấm thay đổi hiện trạng, tạm thời trả tiền, cấm/buộc thực hiện hành vi thông qua các Quyết định số 01/2021/QĐ-BPKCTT, 03/2021/QĐ-BPKCTT và án lệ quốc tế (Geralds Metal, Yahoo v. Microsoft).
  • Đối với giảng viên và người học ngành Luật Thương mại: Dùng làm tài liệu tham khảo chuyên đề về Thủ tục tố tụng trọng tài thương mại và Kỹ năng giải quyết tranh chấp kinh doanh quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Trọng tài thương mại 2010 của Việt Nam, Hội đồng trọng tài có thẩm quyền áp dụng bao nhiêu biện pháp khẩn cấp tạm thời? Hội đồng trọng tài có thẩm quyền áp dụng 06 biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 49 Luật TTTM 2010, bao gồm: cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định; kê biên tài sản đang tranh chấp; yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt tài sản; yêu cầu tạm thời trả tiền; cấm chuyển dịch quyền về tài sản.

2. Điểm khác biệt căn bản về thẩm quyền áp dụng BPKCTT giữa Hội đồng trọng tài và Tòa án trong pháp luật tố tụng là gì? Tòa án mang quyền lực tư pháp nhà nước nên trong một số trường hợp có quyền tự mình (ex officio) ra quyết định áp dụng BPKCTT và có thể áp dụng trước khi mở phiên tòa; trong khi HĐTT chỉ được thành lập theo sự thỏa thuận của các bên, tuyệt đối không được tự mình áp dụng nếu không có đơn yêu cầu của đương sự và chỉ có thẩm quyền khi HĐTT đã được thành lập hợp lệ.

3. Cơ chế Trọng tài viên khẩn cấp (Emergency Arbitrator) giải quyết khoảng trống pháp lý nào trong TTTM? Cơ chế Trọng tài viên khẩn cấp cho phép chỉ định một trọng tài viên độc lập để xem xét và ban hành quyết định BPKCTT trong khoảng thời gian khẩn cấp từ 14 đến 15 ngày ngay sau khi có yêu cầu, giải quyết triệt để khoảng trống trước khi HĐTT chính thức được thành lập mà đương sự không cần phải chuyển yêu cầu sang Tòa án.

4. Biện pháp "tạm thời trả tiền giữa các bên" được áp dụng đối với đối tượng nào và có điểm gì cần lưu ý? Biện pháp tạm thời trả tiền chỉ được áp dụng đối với các khoản tiền không có tranh chấp hoặc các khoản tiền chắc chắn đã đến hạn phải thanh toán (thường thấy trong tranh chấp hợp đồng xây dựng nhằm duy trì dòng tiền), không được áp dụng đối với chính khoản tiền đang là đối tượng tranh chấp cốt lõi của vụ án để tránh việc định đoạt trước nội dung phán quyết cuối cùng.

5. Trong vụ án tranh chấp Shiseido Việt Nam v. Thủy Lộc, vấn đề pháp lý nào được đặt ra khi Tòa án áp dụng BPKCTT? Tòa án đã ra quyết định phong tỏa tài khoản ngân hàng (dưới mức 13,4 tỷ đồng) và phong tỏa toàn bộ sản phẩm mỹ phẩm của Công ty Thủy Lộc, tuy nhiên quyết định này bộc lộ bất cập khi căn cứ áp dụng chưa chứng minh rõ "sự cần thiết" và mức độ thiệt hại không thể khắc phục, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do kinh doanh của đương sự.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hiếu Ngân đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm lập pháp quốc tế về chế định BPKCTT trong tố tụng trọng tài thương mại. Bằng việc phân tích sâu sắc các bất cập thực định của Luật TTTM 2010 và đối chiếu thực tiễn xét xử, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ từ việc bổ sung chế định Trọng tài viên khẩn cấp, mở rộng thẩm quyền HĐTT đến việc lượng hóa các điều kiện áp dụng theo chuẩn mực Luật Mẫu UNCITRAL. Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho tiến trình hoàn thiện thể chế tài phán thương mại tại Việt Nam.