CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm rủi ro, quản lý rủi ro và nguyên tắc trong quản lý rủi ro 1. Khái niệm về rủi ro Trong thực tế, cả về phương diện lý thuyết cũng như trong thực tế quản lý, có những khái nhiệm khác nhau về rủi ro. Thực chất nói về rủi ro, không có một định nghĩa duy nhất, rủi ro có thể là: Sự cố/điều có thể xảy ra ngoài mong đợi, không mong muốn, khả năng xảy ra một sự cố không may, sự không thể đoán trước về kết quả, sự không chắc chắn về tổn thất.
Rủi ro là toàn bộ biến cố ngẫu nhiên tiêu cực tác động đến quá trình hoạt động kinh doanh làm thay đổi kết quả theo chiều hướng bất lợi. Rủi ro cũng là khả năng sai lệch xảy ra giữa giá trị thực tế và kỳ vọng, kết quả sai lệch càng lớn thì rủi ro càng nhiều. Rủi ro trong lĩnh vực hải quan có thể phân chia thành hai dạng chủ yếu: rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan được đánh giá qua biểu hiện của một số đặc tính tự nhiên của hàng hóa cùng với sự kết hợp của phân loại, thuế XNK, xuất xứ hàng hóa, phương tiện vận tải, phương thức vận chuyển, đóng gói…là đối tượng cho hành vi vi phạm PLHQ.
Ví dụ như hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu hoặc hàng hóa có thuế suất nhập khẩu cao,…Rủi ro chủ quan được đánh giá qua biểu hiện của các yếu tố liên quan như nhà XK, NK, hàng vận chuyển, đại lý khai hải quan…Các yếu tố chủ quan được nhận biết từ sự kết hợp của các yếu tố cho phép đặc trưng hàng hóa và có tính chất xác định các hành vi liên quan trong hoạt động; đặc biệt là các chủ thể tham gia trực tiếp như nhà nhập khẩu, đại lý hải quan…Ví dụ như doanh nghiệp thường xuyên thay đổi địa bàn hoạt động, doanh nghiệp nhiều lần vi phạm PLHQ,… 4 Tiếp cận từ mục tiêu của ngành Hải quan, có thể phân chia rủi ro thành hai loại chủ yếu, là rủi ro cản trở tạo thuận lợi thương mại, thường xuất hiện chủ yếu do hệ thống pháp luật không phù hợp, từ sự cứng nhắc của cơ quan Hải quan hoặc nảy sinh từ những bất cẩn, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu liêm chính của công chức thừa hành; những rủi ro này cản trở rất lớn đến mục tiêu của cơ quan Hải quan, nhưng thường ít được quan tâm hoặc có quan tâm nhưng không đúng mức. Loại rủi ro thứ hai là việc không tuân thủ của tổ chức, cá nhân thực hiện XN, XNC. Đây là vấn đề trọng tâm của chương trình QLRR hướng đến giải quyết. Loại rủi ro này được biết đến như buôn lậu, gian lận thương mại về trị giá, phân loại hàng hóa, giấy phép, hồ sơ, chứng từ hải quan…Để nhận diện, phân loại và tập trung nguồn lực kiểm soát có hiệu quả đối với các rủi ro, cơ quan Hải quan thường phân chia rủi ro thành các lĩnh vực cụ thể, còn gọi là lĩnh vực rủi ro (Risk Areas).
Lĩnh vực rủi ro có thể được hiểu là các hoạt động thương mại quốc tế, các lĩnh vực hoạt động hải quan tiềm ẩn rủi ro. Việc phân chia lĩnh vực rủi ro giúp cho việc xác định, phân tích và hệ thống hóa các rủi ro cần quản lý. Một số lĩnh vực rủi ro chủ yếu trong lĩnh vực hải quan thường được xác định (không giới hạn), bao gồm: lĩnh vực vận tải, thương mại quốc tế; khai hải quan; phân loại hàng hóa; trị giá hải quan; chế độ hạn ngạch thuế quan; cơ chế, chính sách quản lý hàng hóa XK, NK; buôn lậu… 1. Khái niệm về Quản lý rủi ro Quản lý rủi ro là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách quản lý, hạn chế các rủi ro đó xảy ra với tổ chức hay doanh nghiệp.
Trên thế giới, quản lý rủi ro đã được áp dụng và kết quả không chỉ thành công tại “khu vực tư nhân” khi mà các lĩnh vực như bảo hiểm, ngân hàng, thương mại, công nghiệp,… tìm khả năng nắm bắt, tạo ra cơ hội để cải thiện kết quả kinh doanh của mình mà việc áp dụng quản lý rủi ro còn có thể 5 giúp cho “khu vực công” xác định được những lĩnh vực có rủi ro với mức độ, thang độ nhất định để từ đó hỗ trợ cho việc ra quyết định xử lý rủi ro trong điều kiện phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. Theo bộ tiêu chuẩn TCVNISO/IEC31010:2013, khái niệm quản lý rủi ro được hiểu là “Việc áp dụng một cách hệ thống các thông lệ và thủ tục quản lý nhằm cung cấp thông tin cần thiết để xử lý rủi ro”[2].1 Để quản lý rủi ro hiệu quả đòi hỏi có sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích, và như vậy, tất yếu sẽ không thể có đủ chi phí để giải quyết tất cả các rủi ro một cách ngang bằng như nhau nên rủi ro cần phải được phân tách thành các loại khác nhau dựa trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận được hay không thể chấp nhận được nhằm ứng xử phù hợp với các loại rủi ro khác nhau đó. Các nguyên tắc trong quản lý rủi ro Có 7 Bảy nguyên tắc trong quản lý rủi ro (Carnegie Mellon University) 1. Rõ ràng về quan điểm và tầm nhìn của tổ chức, doanh nghiệp 2.
Tiếp cận theo quan điểm tiến tiến, hiện đại trong quản trị 3. Thông tin và truyền thông theo hệ thống mở 4. Thực hiện quản trị có hệ thống và phối hợp chặt chẽ 5. Hoạt động theo một quá trình liên tục 6.
Có chung tầm nhìn và mục tiêu 7. Tinh thần tập thể, làm việc nhóm 1. Quy trình và nội dung quản lý rủi ro 1. Quy trình quản lý rủi ro Có thể có những cách khác nhau để quản lý rủi ro một cách có hệ thống và có quy trình, về cơ bản Quy trình quản lý rủi ro được mô tả như dưới đây: 1 Bộ tiêu chuẩn TCVNISO/IEC31010:2013 6 Sơ đồ 1: Quy trình quản lý rủi ro trong tổ chức QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG TỔ CHỨC Quy trình Phân tích rủi ro (Định lượng) Nhận Lập và thực dạng/Nhận Theo dõi, giám biết rủi ro hiện kế sát và giải hoạch quản quyết rủi ro lý rủi ro Phân tích rủi ro (Định tính) Như vậy quy trình sẽ bao gồm những nội dung chính được thực hiện theo các bước như sau: Nhận dạng rủi ro Phân tích rủi ro Lập và thực hiện kế hoạch quản lý rủi ro Theo dõi, giám sát và giải quyết rủi ro 1.
Nội dung các bước trong quy trình quản lý rủi ro Quy trình QLRR cần đảm bảo tính hệ thống, liên tục và thống nhất chung để từ đó nhằm tiếp cận và thực hiện phương pháp luận đúng chuẩn mực về hiện thực hóa QLRR. Quy trình này chính là một phương pháp luận có tính chu kỳ lặp theo vòng tròn khép kín, trong đó có những bước công việc được định danh cụ thể, hỗ trợ cho việc đưa ra các quyết định nghiệp vụ thông qua phân tích bản chất của rủi ro, xem xét các tác động có thể của rủi ro, xác định cơ sở cho các quyết định quản lý trong điều kiện hài hòa với các nguồn lực được phân bổ, cũng như với thứ tự ưu tiên của các biện pháp xử lý. 7 Xây dựng môi trường thông tin - Thiết lập bối cảnh quản lý: Giai đoạn này xác định bối cảnh diễn ra hoạt động quản lý rủi ro, các mục tiêu của việc phân tích các đối tượng quản lý, và những rủi ro cần được quản lý. Việc xác định đối tượng cần quản lý sẽ giúp xây dựng thước đo chuẩn cho toàn bộ quy trình quản lý rủi ro.
Kết quả của giai đoạn này sẽ là một báo cáo mô tả môi trường hoạt động của quản lý rủi ro, xác định các tiêu chí và thước đo cho giai đoạn đánh giá rủi ro. Đánh giá rủi ro - Xác định rủi ro: Bước này chỉ ra và ghi lại tất cả những rủi ro tiềm ẩn thông qua một quy trình mang tính hệ thống, theo đó chỉ ra những rủi ro có thể phát sinh, lý do vì sao và cách thức phát sinh rủi ro, từ đó hình thành cơ sở để phân tích sâu hơn những rủi ro đó. Kết quả xác định được danh mục các rủi ro, phạm vi tác động của rủi ro. Đánh giá rủi ro - Phân tích rủi ro: Bước này sử dụng dữ liệu và thông tin nhằm lượng hóa các kết quả, hậu quả có thể xảy đến nếu có rủi ro và/hoặc nếu không xác định được rủi ro cụ thể.
Kết quả xác định cấp độ dự kiến của rủi ro trên cơ sở định lượng và định tính, hoặc kết hợp cả hai loại trên. Đánh giá và xếp thứ tự các rủi ro: Giai đoạn này thực hiện việc so sánh các rủi ro đã được đánh giá với các tiêu chí chủ đạo đã được xác định từ trước, sử dụng các nguồn lực theo dự kiến để chuẩn bị hoặc ngăn ngừa hoặc đối phó với rủi ro. Kết quả giai đoạn này là lượng hóa, sắp xếp rủi ro theo các cấp độ của rủi ro, kết nối rủi ro với các đơn vị có thể xảy ra rủi ro để các đơn vị đó có trách nhiệm trong việc tìm cách giảm thiểu rủi ro và theo dõi rủi ro. Giải pháp xử lý rủi ro: Xử lý rủi ro là việc tìm cách giảm khả năng hoặc hậu quả của rủi ro bằng cách áp dụng các biện pháp kiểm soát và tác nghiệp nhằm thay đổi các mức độ rủi ro để phù hợp với khả năng chấp nhận của cơ quan Hải quan.
Tùy thuộc loại rủi ro mà áp dụng phương pháp xử lý rủi ro phù hợp. 8 Giám sát, rà soát: Theo dõi và rà soát, đánh giá là bước công việc phải thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quy trình quản lý rủi ro nhằm trả lời cho các câu hỏi sau: Các kết luận về rủi ro còn nguyên giá trị hay không? Rủi ro nào mới xuất hiện, đang nổi trội? Tính hiệu quả, hiệu lực của biện pháp xử lý nhằm tối thiểu hóa rủi ro, tối thiểu hóa chi phí? Tính phù hợp của biện pháp kiểm soát chi phí, kiểm soát quản lý? Tính tuân thủ quy định, quy trình của biện pháp xử lý? Hệ thống sẽ có thể được cải tiến nâng cao như thế nào? Lưu trữ, cung cấp thông tin và tư vấn: Việc cung cấp thông tin và tư vấn với các bên trong ngành hay ngoài ngành cần được thực hiện với mỗi công đoạn cũng như thực hiện đối với toàn bộ quy trình QLRR đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch.