Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế cấp tỉnh của Việt Nam; Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2017; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI CỤC THUẾ CẤP TỈNH CỦA VIỆT NAM 1. Khái niệm về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế 1. Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Khi Nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần của cải trong xã hội vào tay nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế. Giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Nợ thuế là một phạm trù tất yếu khách quan tồn tại cùng với sự tồn tại của thuế, khi còn thuế thì vẫn còn nợ thuế.
Xét ở góc độ hành vi thì nợ thuế là hành vi của người nộp thuế chưa nộp kịp thời số tiền phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. Về phía cơ quan thuế, đây là số tiền phải thu của người nộp thuế“theo quy định của pháp luật được Nhà nước giao trách nhiệm thu nhưng chưa thu được. Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác‘tài nguyên khoáng sản và‘các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào’NSNN. Do đó, để đảm bảo thu đúng, thu đủ số thuế phải nộp của người nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước thì phải tốt công tác quản lý nợ thuế.
Quản lý nợ 5 thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế. Khái niệm cưỡng chế nợ thuế Cưỡng chế nợ thuế là hoạt động của cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa”vụ thuế. Vai trò của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 1. Công tác quản lý nợ thuế Quản lý nợ thuế có một vai trò quan trọng trong”công tác quản lý thuế.
Cụ thể là:” Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi và nắm bắt được chính xác tình hình chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế; đôn đốc, đảm bảo người nộp thuế nộp đầy đủ và kịp thời các khoản thuế vào ngân sách Nhà nước. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức”tuân thủ pháp luật thuế của người”nộp thuế, nâng cao sự minh bạch, công bằng giữa những NNT. Thứ hai, quản lý nợ thuế góp phần đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế khi”cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì”phải có nghĩa vụ nộp vào”ngân sách theo quy định. Thứ ba, quản lý nợ thuế đảm bảo quản lý tất cả”các khoản thu của”Nhà nước, chống thất thoát.
Quản lý nợ thuế tốt góp phần”nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế.” Thứ tư, quản lý nợ thuế tốt cũng tạo ra một kênh thông tin đúng đắn để xử lý khoản nợ của người nộp thuế một cách đúng đắn. Thông qua đó, có biện pháp đôn đốc nợ thuế hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của người nộp thuế. Công tác cưỡng chế nợ thuế Thực tế cho thấy, bên cạnh những người nộp thuế luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật thuế thì vẫn còn không ít những người nộp thuế cố tình 6 trây ỳ, dây dưa nợ đọng thuế kéo dài, lợi dụng các kẽ hở của cơ chế, chính sách để trốn thuế và tránh thuế gây thất thu ngân sách. Do đó, cùng với các chế tài xử phạt khác thì cưỡng chế thuế có vai trò giáo dục, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, đồng thời đảm bảo thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế vào ngân sách nhà nước, chống thất thu, đảm bảo công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế, góp phần quản lý thuế có hiệu quả, đảm bảo hiệu lực của bộ máy công quyền nhà nước.
Mục tiêu của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 1. Công tác quản lý nợ thuế Đối với quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ và không bỏ sót các khoản thu của NSNN. Đây được xem như là một yêu cầu xuyên suốt, thường xuyên của việc quản lý nợ thuế và là mục tiêu của quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trong toàn ngành thuế nói chung. Nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN.
Mặt khác, sẽ gây khó khăn trong công tác cưỡng chế nợ thuế vì sẽ nhận phản ứng không phối hợp từ phía người nộp thuế do việc xác định nghĩa vụ thuế chưa chính xác. Điều này còn đem đến tác động tiêu cực đến tâm lý, hành vi của người nộp thuế và sẽ làm giảm sự nghiêm minh của pháp luật thuế. Công tác cưỡng chế nợ thuế Cũng như công tác quản lý nợ, công tác cưỡng chế nợ thuế chỉ đạt được hiệu quả khi xác định đúng mục tiêu và các yêu cầu cụ thể. Cưỡng chế nợ thuế là việc áp dụng các biện pháp, chế tài xử lý của cơ quan quản lý thuế nhằm mục đích thu đúng, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Do vậy, công tác cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau: Thứ nhất, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật nhà nước. Đó là khi các quyết định cưỡng chế thuế ban hành phải đảm bảo được thực hiện một cách thống nhất từ cấp trung ương tới địa phương. Tránh xảy ra tình trạng một quyết định hành chính về cưỡng chế thuế khi ban hành 7 không được thực hiện do các nguyên nhân chủ quan từ phía cơ quan thuế như ban hành không chính xác về số tiền nợ hoặc không chính xác tên đối tượng nợ…, sẽ dẫn đến phản ứng từ đối tượng nợ thuế. Việc ban hành các quyết định hành chính nếu không được thi hành sẽ làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật nhà nước, gây mất lòng tin của nhân dân vào bộ máy công quyền.
Chính vì vậy, đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật nhà nước là yêu cầu tất yếu trong công tác cưỡng chế thuế của cơ quan thuế, góp phần đảm bảo minh bạch trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế. Thứ hai, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan quản lý thuế. Nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế hành chính thì cơ quan thuế phải đảm bảo chi phí cưỡng chế là tối thiểu. Mặt khác, quyết định cưỡng chế khi ban hành phải đảm bảo đầy đủ thẩm quyền của cơ quan thuế, quyền và nghĩa vụ của người nợ thuế, chi phí của người nợ thuế khi thực hiện cưỡng chế được giảm đến tối thiểu… Trước khi ban hành một quyết định cưỡng chế thì cơ quan thuế phải tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡng chế thuế như thời gian cưỡng chế, địa điểm thi hành, hình thức cưỡng chế… để công tác cưỡng chế đạt hiệu quả nhất.
Cơ quan thuế cần cân nhắc thật kỹ lưỡng đối với từng trường hợp nợ thuế, trường hợp nào thì cần cưỡng chế theo hình thức nào, cần thiết phải thực hiện biện pháp cưỡng chế tiếp theo chưa, thời gian nào là hợp lý… Thứ ba, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, thông qua cưỡng chế thuế cơ quan thuế góp phần nâng cao tính hiệu lực của pháp luật đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Nội dung của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế 1. Nội dung quy trình quản lý nợ thuế: Ngày 28/7/2015, Tổng cục Thuế đã ban hành qui trình quản lý nợ thuế kèm theo Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28/7/2015 gồm những nội dung chính sau[21]: 8 (1) Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ Thứ nhất, xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện:Tháng 11 hàng năm căn cứ vào chỉ tiêu thu nợ mà cơ quan cấp trên giao, số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/10 và số tiền thuế nợ năm trước theo đó phân tích, đánh giá khả năng thu, số tiền nợ phát sinh để dự báo số tiền thuế nợ đến 31/12 năm thực hiện. Thứ hai, lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch:Căn cứ”số tiền thuế nợ năm thực hiện đã xác định, yêu cầu của cơ quan thuế cấp trên về thực hiện nhiệm vụ thu nợ hàng năm và phân tích dự báo tình hình kinh tế để đề xuất chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho”năm kế hoạch và các biện pháp để thực hiện.” Thứ ba, báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho cơ quan thuế cấp trên hàng năm:Chi Cục Thuế gửi báo cáo về Cục Thuế trước ngày 05/12; Cục Thuế gửi báo cáo về Tổng cục Thuế trước ngày 10/12.
Thứ tư, phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ:Tổng cục Thuế phê duyệt và giao chỉ tiêu thu nợ cho các Cục Thuế chậm nhất là ngày 31/12 hàng năm. Cục Thuế giao chỉ tiêu thu nợ cho các phòng nhiệm vụ đôn đốc thu nợ theo quy trình và các Chi Cục Thuế chậm nhất là ngày 31/01 năm tiếp theo và báo cáo kết quả về Tổng cục”Thuế.” Thứ năm, triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ: Phòng/đội quản lý nợ xây dựng chỉ tiêu và trình Lãnh đạo giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho Phòng/đội quản lý nợ và”các Phòng/đội tham gia thực hiện quy trình.