CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KĨ NĂNG ĐO LƯỜNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Trên thế giới đã có nhiều nhà Tâm lý học giáo dục nghiên cứu về vai trò, ý nghĩa của việc hình thành cho trẻ những yếu tố của hoạt động đo đạc nhằm giúp trẻ xác định kích thước của các vật xung quanh trẻ một cách chính xác hơn. Các nhà Giáo dục học Liên Xô cũ đã đề xuất đưa nội dung dạy trẻ đo lường vào trong chương trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non nhằm chuẩn bị cho trẻ học phép đo đạc ở trường Tiểu học. Ở Việt Nam, trong giáo trình “Phương pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non” của T.S Đỗ Thị Minh Liên, giáo trình “Toán và phương pháp hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo” của Th.S Đinh Thị Nhung đã có những định hướng chung cách thức dạy trẻ phép đo lường, cụ thể hoá phương pháp hình thành kỹ năng đo lường vào các đối tượng cụ thể, trong những điều kiện cụ thể theo Chương trình đổi mới với hướng dạy tích hợp theo chủ đề, chủ điểm giáo dục.
Chúng tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp hình thành kỹ năng đo lường cho trẻ 5 - 6 tuổi” để nghiên cứu nhằm nâng cao mức độ hình thành kỹ năng đo lường cho trẻ, đồng thời góp phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn về một số biện pháp hình thành kỹ năng đo lường cho trẻ 5 - 6 tuổi. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đo và đo lường * Đo 6 - Có thể hiểu là tìm giá trị của một đại lượng bằng cách so sánh nó với một đại lượng cùng loại dùng làm cơ sở so sánh và gọi là đơn vị: Đo độ dài, đo thời gian, đo nhiệt độ… - Theo chúng tôi khái niệm “đo” là xác định độ lớn của một đại lượng, một vật bằng các dụng cụ đo chính xác như đo đất để chia, đo xem ai cao hơn.
* Đo lường Đo lường là việc mô tả định lượng bằng các đơn vị đo, bao gồm số lượng, trọng lượng, khoảng cách, thời gian, nhiệt độ, âm lượng; những đại lượng này có thể đo bằng các đơn vị chuẩn hoặc các đơn vị không chuẩn mà trẻ lựa chọn như: Một vốc, một gang tay, vài bước chân… Đo lường thường kéo theo việc sắp xếp các đối tượng theo trật tự phân hạng như tăng dần hoặc giảm dần của số lượng hay sắc thái. Mục đích của việc đo lường là để biết kích thước của vật đó là kết quả của phép đo, kết quả biểu thị bằng chữ số. Đo lường là hoạt động gồm có quá trình đo và kết quả đo. Kết quả đo được xác định tuỳ thuộc vào đơn vị đo.
Chính vì vậy trước khi thực hiện quá trình đo phải lựa chọn đơn vị đo phù hợp. Đồng thời khi thông báo kết quả đo phải nói rõ đơn vị đo. Vì vậy khi nói kết quả đo cần phải gắn số kết quả với tên gọi thước đo. Có hai cách đo: - Đo trực tiếp: Là phép đo một đại lượng vật lý nào đó mà không cần thông qua một đại lượng trung gian khác.
- Đo gián tiếp: Là phép đo một đại lượng mà cần sử dụng một đại lượng trung gian khác. Hiện nay, trẻ Mẫu giáo lớn có thể nắm được một vài dạng đo bằng các dụng cụ đo khác nhau, các dụng cụ đo này phụ thuộc vào đặc điểm của vật để đo 7 - Dạng đo thứ nhất: Đo độ dài - trẻ đo các chiều đo kích thước như: đo chiều dài, chiều rộng, chiều cao của vật bằng các đơn vị đo khác nhau như: Que tính, băng giấy, bước chân, gang tay… - Dạng đo thứ hai: Đo thể tích như đong số lượng nước trong chậu, số lượng gạo, cát trong hộp bằng ca, cốc… Ở lớp Mẫu giáo lớn, trên giờ học trẻ được học đo theo dạng đo thứ nhất, còn dạng đo thứ hai trẻ chỉ được làm quen ở hoạt động khác như: Trong hoạt động ngoài trời, hoặc ở góc khám phá khoa học trong hoạt động vui chơi. Kỹ năng và kỹ năng đo lường * Kỹ năng Có nhiều khái niệm khác nhau về kỹ năng Theo PGS. Ngô Công Hoàn, GS.
Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành trong giáo trình “Tâm Lý Học đại cương “đều cho rằng: Kỹ năng là một năng lực của con người biết vận dụng các thao tác của một hành động theo đúng quy trình. Như vậy, từ những ý kiến trên chúng tôi thấy quan điểm của các tác giả về kỹ năng theo hai hướng sau: • Coi kỹ năng như là kỹ thuật của hành động • Coi kỹ năng như là năng lực giải quyết vấn đề của con người. Theo chúng tôi, kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm phù hợp với điều kiện hoàn cảnh. Như vậy, kỹ năng được xem xét nghiêng về năng lực của con người, kỹ năng theo khuynh hướng này vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích và được biểu hiện ở một số dấu hiệu đặc trưng sau: 8 - Kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác hành động.
- Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động hay một nhóm hành động dựa trên cơ sở của tri thức, của các điều kiện và phương tiện phù hợp với mục đích đã xác định. - Sự hình thành và mức độ phát triển của các kỹ năng được xác định trên cơ sở của tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp nhàng của các động tác của hành động. * Kỹ năng đo lường Kỹ năng đo lường là năng lực thực hiện có kết quả hành động xác định độ lớn của đại lượng bằng các đơn vị đo không chuẩn. Việc đo các đối tượng bằng các thước đo ước lệ không phải là một phép tính toán học, điều này xuất phát từ một số nguyên nhân, như: Thứ nhất - thước đo được lựa chọn một cách ngẫu nhiên phụ thuộc vào tình huống và các điều kiện cụ thể.
Nguyên nhân thứ hai có liên quan với nguyên nhân thứ nhất – vì đo bằng thước đo ước lệ cho nên việc đánh giá kích thước sẽ kém chính xác so với việc đo bằng các thước đo chuẩn. Ví dụ: Khi đo chiều dài đoạn đường bằng bước chân, nhưng chiều dài bước chân lại không đều, nên kết quả đo sẽ khác nhau ở các lần đo khác nhau. Biện pháp hình thành kỹ năng đo lường cho trẻ 5 – 6 tuổi * Biện pháp: Trong cuộc sống, bất cứ ai cũng phải vận động để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, có những hành động khi chúng ta thực hiện có thể vượt qua một 9 cách dễ dàng nhưng có những hoạt động thì vô cùng khó khăn.
Chúng ta phải xây dựng những biện pháp để làm sao vượt qua được những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Vậy biện pháp là gì? Nghĩa chung nhất của biện pháp là cách để thực hiện một công việc cụ thể nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. * Biện pháp hình thành kỹ năng đo lường cho trẻ 5 – 6 tuổi. Chúng ta có thể hiểu: Biện pháp hình thành kỹ năng đo lường cho trẻ 5 – 6 tuổi là những cách thức, cách làm được lặp đi lặp lại nhằm hình thành ở trẻ khả năng thực hiện có hiệu quả hành động đo lường trên cơ sở nắm vững ý nghĩa của phép đo, biết cách đo lường và biết sử dụng đồ dùng để thực hiện phép đo cũng như biết vận dụng kỹ năng đo vào các tình huống khác nhau trong cuộc sống.
Đối với trẻ mầm non, làm quen với toán nói chung và dạy trẻ phép đo lường nói riêng là một nội dung tương đối khó nhưng lại có một sức hấp dẫn rất lớn với trẻ. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của cô và sự tích cực hoạt dộng của bản thân trẻ, trẻ đã tích luỹ cho mình những kiến thức toán học sơ đẳng nhất để chuẩn bị vào học ở trường phổ thông. Với giáo viên, để truyền đạt cho trẻ bất cứ một nội dung toán học nào, người giáo viên cũng phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học. Đặc điểm mức độ phát triển biểu tượng về kích thước và khả năng đo lường của trẻ mầm non Trẻ em nhận biết về kích thước của các vật nhờ có sự tham gia tích cực của các giác quan mà chủ yếu là thị giác và xúc giác, sau đó dùng ngôn ngữ để khái quát những nhận biết về kích thước.
Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định: Trẻ từ một tuổi trở lên mới có khả năng nhận biết kích thước của vật và nó được tăng lên theo mức độ tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình trẻ hoạt động với đồ vật. 10 Lên hai tuổi, mặc dù chưa nắm được ngôn ngữ tích cực, nhưng trẻ đã có những phản ứng không những đối với sự khác nhau về kích thước mà cả với mối quan hệ kích thước giữa các khách thể. Dấu hiệu kích thước thường được trẻ lĩnh hội gắn liền vật cụ thể, quen thuộc với trẻ và đối với trẻ đó là dấu hiệu mang tính tuyệt đối. Ví dụ: Trẻ thường coi quả bóng của mình là to hơn quả bóng của các bạn mà không cần tới sự so sánh độ lớn giữa chúng.
Trẻ 3 - 4 tuổi có thể nhận biết về một chiều kích thước của vật và trẻ có thể làm đúng theo yêu cầu của người lớn. Tuy nhiên trẻ rất khó để có thể nắm được tính tương đối của khái niệm kích thước. Hơn nữa trẻ thường không lựa chọn các vật có kích thước tương ứng với nhau. Ví dụ: Trẻ rất thích thú được xỏ chân vào chiếc dép của mẹ, hay thích đặt con gấu to vào chiếc ghế nhỏ… Trong ngôn ngữ thụ động của trẻ đã bắt đầu có những từ và khái niệm về các kích thước khác nhau của vật.
Song vốn từ của trẻ còn ít và trẻ cũng chưa hiểu được ý nghĩa của danh từ “kích thước”, chưa nắm được biểu tượng của từng loại kích thước nên trẻ thường trả lời không chính xác về kích thước của các vật Có thể thấy vai trò của lời nói, của ngôn ngữ chính xác có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thụ cảm kích thước của trẻ.