Giáo dục thẩm mỹ và văn hóa ứng xử cho học sinh lớp chủ nhiệm ở trường THPT

Tài liệu nghiên cứu Skkn một số biện pháp giáo dục thẩm mỹ để hình thành văn hóa ứng xử cho học sinh lớp chủ nhiệm ở, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường THPT Phan Đăng Lưu

Chuyên ngành

Giáo dục thẩm mỹ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2021-2022

60
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Đối tượng nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Cấu trúc của đề tài

2. NỘI DUNG

2.1. Cơ sở khoa học

2.1.1. Những khái niệm cơ bản

2.1.1.1. Văn hóa – Văn hóa ứng xử - Văn hóa ứng xử học đường

2.2. Giáo dục thẩm mỹ

2.3. Nội dung và phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho HS THPT

2.3.1. Nội dung GDTM cho HS THPT

2.3.2. Phương pháp GDTM cho HS THPT

2.4. GVCN với công tác GDTM để hình thành văn hóa ứng xử cho HS

2.4.1. Vai trò của GVCN lớp

2.4.2. Vai trò của GVCN trong việc GDTM để hình thành văn hóa ứng xử cho HS

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng văn hóa ứng xử học sinh THPT và nhu cầu giáo dục thẩm mỹ

Đề tài nghiên cứu văn hóa ứng xử học sinh THPT. Hiện trạng cho thấy nhiều học sinh thiếu văn hóa ứng xử, biểu hiện qua bạo lực học đường, trang phục không phù hợp, thiếu tôn trọng người lớn. Nguyên nhân một phần do sự bùng nổ thông tin, tiếp xúc với văn hóa phẩm chưa lành mạnh, dẫn đến lệch lạc thẩm mỹ. Vì vậy, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT là cần thiết để hình thành văn hóa ứng xử tích cực. Giáo dục thẩm mỹ tích hợp cần được chú trọng, kết hợp với việc nâng cao nhận thức về văn hóa ứng xử. Việc xây dựng môi trường giáo dục tích cực đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi ứng xử tích cực ở học sinh. Một số học sinh chưa có kỹ năng giao tiếp hiệu quả, dẫn đến mâu thuẫn trong các mối quan hệ. Giải pháp cải thiện văn hóa ứng xử cần đa dạng, phù hợp với lứa tuổi và điều kiện thực tế.

1.1 Nguyên nhân vi phạm đạo đức học sinh THPT

Nhiều yếu tố dẫn đến vi phạm đạo đức ở học sinh THPT. Nguyên nhân vi phạm đạo đức học sinh có thể là do ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, hoặc môi trường xã hội. Thiếu sự quan tâm giáo dục từ gia đình là một trong những nguyên nhân chính. Một số học sinh tiếp xúc với các thông tin tiêu cực trên mạng xã hội, dẫn đến hành vi sai trái. Vai trò gia đình trong giáo dục thẩm mỹ rất quan trọng. Vai trò nhà trường trong giáo dục thẩm mỹ cũng không kém phần quan trọng. Việc thiếu sự giám sát từ nhà trường cũng góp phần vào tình trạng này. Cần có các biện pháp giáo dục tích cực để khắc phục tình trạng này. Phát triển nhân cách học sinh THPT là mục tiêu quan trọng của giáo dục. Rèn luyện kỹ năng sống học sinh THPT giúp học sinh tự tin, giải quyết vấn đề hiệu quả.

1.2 Thực trạng giáo dục thẩm mỹ hiện nay

Hiện nay, giáo dục thẩm mỹ trong trường THPT chưa được chú trọng đúng mức. Phương pháp giáo dục thẩm mỹ còn mang tính lý thuyết, chưa gắn liền với thực tiễn. Mục tiêu giáo dục thẩm mỹ chưa được cụ thể hóa. Việc đánh giá giáo dục thẩm mỹ chưa có hệ thống. Chương trình giáo dục thẩm mỹ cần được cập nhật, bổ sung. Mô hình giáo dục thẩm mỹ hiệu quả cần được nghiên cứu và áp dụng. Ứng dụng công nghệ trong giáo dục thẩm mỹ cần được đẩy mạnh. Giáo dục đạo đức lối sống cần được kết hợp chặt chẽ với giáo dục thẩm mỹ. Kết quả giáo dục thẩm mỹ cần được đánh giá một cách khách quan.

II. Biện pháp giáo dục thẩm mỹ hiệu quả cho học sinh THPT

Đề tài đề xuất nhiều biện pháp giáo dục thẩm mỹ để cải thiện văn hóa ứng xử học sinh THPT. Xây dựng mô hình lớp học hạnh phúc tạo môi trường thân thiện, tích cực. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp học sinh phát triển năng lực thẩm mỹ, rèn luyện kỹ năng sống. Đổi mới phương pháp giảng dạy tích cực hóa hoạt động học sinh. Phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội tạo sự đồng thuận, hỗ trợ giáo dục học sinh toàn diện. Xây dựng chương trình giáo dục thẩm mỹ phù hợp với điều kiện thực tế. Đánh giá hiệu quả giáo dục thẩm mỹ thường xuyên để điều chỉnh kế hoạch. Khuyến khích hành vi ứng xử tích cực bằng cách tuyên dương, khen thưởng. Khắc phục hành vi ứng xử thiếu văn hóa bằng các biện pháp giáo dục phù hợp. Quan điểm giáo dục thẩm mỹ hiện đại cần được áp dụng.

2.1 Phương pháp giáo dục thẩm mỹ tích cực

Phương pháp giáo dục thẩm mỹ hiệu quả cần dựa trên sự chủ động, sáng tạo của học sinh. Rèn luyện kỹ năng sống giúp học sinh tự tin, giải quyết vấn đề. Xây dựng môi trường giáo dục tích cực khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động. Giáo dục thẩm mỹ tích hợp vào các môn học khác nhau. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm giúp học sinh tiếp cận thực tế. Sử dụng công nghệ thông tin làm đa dạng phương pháp giảng dạy. Đánh giá giáo dục thẩm mỹ thường xuyên, toàn diện. Vai trò nhà trường trong giáo dục thẩm mỹ rất quan trọng. Vai trò xã hội trong giáo dục thẩm mỹ cũng cần được quan tâm. Giáo dục toàn diện học sinh THPT là mục tiêu hướng tới.

2.2 Vai trò của các bên liên quan

Vai trò gia đình trong giáo dục thẩm mỹ không thể thiếu. Vai trò nhà trường trong giáo dục thẩm mỹ là then chốt. Vai trò xã hội trong giáo dục thẩm mỹ góp phần tạo nên môi trường lành mạnh. Cộng tác giáo dục học sinh THPT giữa gia đình, nhà trường và xã hội là cần thiết. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên giúp phát triển toàn diện học sinh THPT. Chính sách giáo dục THPT cần tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mỹ. Khuyến học và tạo điều kiện học tập cho học sinh. Giáo dục đạo đức lối sống cần được kết hợp chặt chẽ với giáo dục thẩm mỹ. Giáo dục thẩm mỹ toàn diện tạo ra thế hệ học sinh có nhân cách toàn diện.

31/01/2025
Skkn một số biện pháp giáo dục thẩm mỹ để hình thành văn hóa ứng xử cho học sinh lớp chủ nhiệm ở trường thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Phần hai: Nội dung Phần ba: Kết luận 2 skkn NỘI DUNG I. ơ sở khoa học 1. Những khái niệm cơ bản 1. Văn hóa – Văn hóa ứng xử - Văn hóa ứng xử học đường a, Văn hóa Tại Hội nghị của UNESCO tại Mêhicô từ 26/7 đến ngày 06/8/1982 với sự tham gia của gần 500 nhà nghiên cứu, văn hoá đã được định nghĩa: “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc hoạ nên bản sắc của một gia đình, cộng đồng, làng xóm, vùng miền, quốc gia, dân tộc….Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng, những di sản văn hoá hữu thể và những di sản văn hoá vô hình”.

Từ điển tiếng Việt viết: “văn hoá là tổng thể nói chung tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. b, Văn hóa ứng xử Văn hóa ứng xử là tập hợp những nét đẹp thể hiện qua các thái độ, hành động phân xử, thế ứng xử, đối ứng với một thái độ, hành vi khác thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cá nhân, một cộng đ ng người trong việc trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ nhỏ đến lớn. c, Văn hóa ứng xử học đường Thuật ngữ Văn hóa học đường xuất hiện trong những năm 1990 trong một số nước nói tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc…và dần dần trở nên phổ biến trên thế giới với ý nghĩa tổng quát: Văn hóa học đường là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người đã tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục và quá trình hình thành nhân cách.

Theo Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc thì: “Văn hóa học đường là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp cán bộ quản lý nhà trường, thầy cô giáo, các vị phụ huynh và các em học sinh, sinh viên có các cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp”. 3 skkn Theo Nguyễn Dục Quang và Nguyễn Thị Ngọc Hà (2018):” Văn hóa ứng xử học đường được hiểu là các chuẩn mực mang tính đạo đức, thẩm mỹ chi phối hành vi ứng xử của con người trong môi trường học đường được thể hiện qua thái độ, lời nói, cử chỉ, hành động… trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể. VHƯXHĐ được cụ thể hóa qua các biểu hiện ứng xử với đ vật, cảnh quan trong nhà trường; qua sự tương tác người - người: Lãnh đạo nhà trường - Giáo viên (GV)/ Cán bộ trường học, GV - GV, GV - Học sinh (HS), GV - Cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục khác, HS - HS”. Chủ thể của ứng xử học đường được đề cập trong sáng kiến này chủ yếu tập trung vào hai chủ thể chính bao g m lực lượng giáo dục nhà trường và HS.

Giáo dục thẩm mỹ Thẩm mỹ là phạm trù triết học nói về cái đẹp khách quan của tự nhiên, xã hội và con người mà chúng ta đang đề cập tới. Cái đẹp là cái trung tâm, bên cạnh cái đẹp là cái tốt, cái cao thượng, cái anh hùng. Những khái niệm tương phản là cái xấu, cái thấp hèn, cái hài, cái bi. Theo Mac-Lênin : “Lí tưởng thẩm mỹ là tổng thể phương hướng cơ bản của đời sống được đúc kết lại thành hình ảnh mẫu mực, cảm quan của sự hoàn thiện hoàn mỹ của con người và xã hội, là cuộc sống trên đà phát triển, là khát vọng và hành động nhằm hoàn thiện vô tận cuộc sống (endless) bằng cách giải quyết những nhu cầu, mâu thuẫn thực tại để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho mọi người trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn hiện đại.

Lí tưởng thẩm mỹ bộc lộ rõ rệt và tập trung nhất trong lãnh vực nghệ thuật bằng cái đẹp và cái trác tuyệt”. Dựa trên lí tưởng thẩm mỹ mà Mac-Lênin đưa ra, tôi sử dụng các khái niệm giáo dục thẩm mỹ như sau: Giáo dục thẩm mỹ, về bản chất là b i dưỡng lòng khát khao đưa cái đẹp vào cuộc sống, tạo nên sự hài hòa giữa xã hội – con người – tự nhiên, nâng cao năng lực cảm thụ, đánh giá và sáng tạo ở học sinh, làm cho đời sống của của các em được phát triển một cách hài hòa trong mọi hoạt động học tập cũng như lao động; trong quan hệ gia đình cũng như xã hội. Như vậy, GDTM là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến học sinh, nhằm giúp HS biết nhận ra cái đẹp, có hứng thú, yêu thích cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp trong sinh hoạt và hoạt động cá nhân. GDTM là một khái niệm rộng, bao g m việc giáo dục cho học sinh thái độ thẩm mỹ đối với thiên nhiên, lao động, đời sống xã hội và đối với nghệ thuật.

Từ việc cho học sinh có được sự hiểu biết đúng đắn thế nào là đẹp, xấu đến sự hình thành thái độ tích cực ủng hộ cái đẹp, loại trừ cái xấu, đ ng thời có hành vi thích hợp với bản thân để tạo ra cái đẹp cho bản thân và cái đẹp trong cuộc sống xung quanh là một quá trình tác động sư phạm lâu dài của nhà giáo dục. Nội dung và phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho HS THPT 1. Nội dung GDTM cho HS THPT “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” - câu nói nhân văn bất hủ của đại văn hào Nga F. Dostoevsky vừa hàm ý tôn vinh giá trị của con người, tôn vinh vị thế của cái đẹp, đ ng thời khẳng định bản chất con người là luôn hướng về cái đẹp, luôn mong ước được thụ hưởng và sáng tạo cái đẹp.

Thế nên, nói đến GDTM là nói đến GD về cái đẹp, phạm trù cái đẹp, cái cao cả, GD về giá trị của cuộc sống. Chương trình GDPT quy định nội dung GD nhằm hình thành và phát triển NLTM được thực hiện qua các môn học thuộc lĩnh vực GD nghệ thuật Âm nhạc và Mỹ thuật , môn Ngữ văn và hoạt động trải nghiệm, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp. Có thể nói, NLTM của học sinh bao g m năng lực âm nhạc, năng lực mỹ thuật, năng lực văn học. Mỗi năng lực được thể hiện qua các hoạt động: Nhận thức các yếu tố thẩm mỹ; Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ.

Trước hết, GD nghệ thuật với trọng tâm là khơi dậy và phát triển năng lực nghệ thuật, thông qua quan sát và nhận thức thẩm mỹ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ, phân tích và đánh giá thẩm mỹ; GD học sinh ý thức tôn trọng, kế thừa giá trị văn hoá, nghệ thuật dân tộc, tiếp cận giá trị thẩm mỹ thời đại, phát huy tinh thần sáng tạo phù hợp với sự phát triển xã hội. Thứ hai là GD ngôn ngữ và văn học, GD học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; Phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha. Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động, độc đáo, các tác phẩm văn học có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt l i để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời. Chính vì vậy, thông qua từng cấp học, thông qua việc r n luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, học sinh hình thành và phát triển năng lực văn học - một biểu hiện của năng lực thẩm mỹ; Đ ng thời hình thành tư tưởng cao đẹp, tình cảm nhân văn để học sinh phát triển toàn diện về tâm h n và nhân cách.

Thứ ba, bên cạnh các môn học trên, NLTM cũng được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động GD khác, chẳng hạn như hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Một số chuyên đề học tập, trải nghiệm phát triển các kĩ năng thực hành, mở rộng hiểu biết về nghệ thuật trong mối tương quan với các yếu tố văn hoá, lịch sử và xã hội, ứng dụng kiến thức vào đời sống, đáp ứng sở thích cá nhân và tiếp cận với những nghề nghiệp liên quan đến nghệ thuật. Phương pháp GDTM cho HS THPT Theo định hướng chung, các môn học và hoạt động GD áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh - trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức 5 skkn hướng dẫn hoạt động; Tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia các hoạt động học tập; Tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân; R n luyện thói quen và khả năng tự học; Phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích luỹ được để phát triển, để trở thành những công dân phát triển toàn diện về nhân cách, hài hoà về thể chất và tinh thần. Các hoạt động học tập được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua học Lí thuyết; Thực hiện bài tập; Trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; Tham gia hội thảo, tham quan, cắm trại, đọc sách; Sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đ ng.

và tuỳ theo mục tiêu, tính chất của hoạt động, học sinh được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp nhưng phải bảo đảm, mỗi học sinh được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế. Theo đó, phương pháp GD để hình thành và phát triển NLTM chính là dựa trên đặc trưng các môn học và hoạt động GD, hướng dẫn học sinh có hứng thú và tự tin trong quá trình nhận thức, phân tích, đánh giá và có nhu cầu tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ, hình thành hệ giá trị năng lực và phẩm chất nhân văn. GV N với công tác GDTM để hình thành văn hóa ứng xử cho HS 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho văn hóa ứng xử học sinh THPT" đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông. Tác giả nhấn mạnh rằng việc giáo dục thẩm mỹ không chỉ giúp học sinh phát triển về mặt nghệ thuật mà còn góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm trong hành vi ứng xử hàng ngày. Những biện pháp cụ thể được đề xuất bao gồm việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, khuyến khích sáng tạo nghệ thuật và xây dựng môi trường học tập tích cực. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc áp dụng những biện pháp này không chỉ cải thiện kỹ năng giao tiếp mà còn tạo ra một không gian học tập thân thiện và hòa nhập hơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp giáo dục khác, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh", nơi bạn có thể khám phá cách nâng cao khả năng giao tiếp tiếng Anh cho học sinh. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs" sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về việc phát triển tư duy phản biện trong giáo dục. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận văn thạc sĩ dạy học viết sáng tạo cho học sinh tiểu học", một tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến việc khuyến khích sự sáng tạo trong học tập. Những liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác nhau của giáo dục.