TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cây cao su (Hevea brasiliensis Müll.) là cây đa mục đích, có vai trò lớn về kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng. Cây cao su có nhiều giá trị và thuộc nhóm cây dễ trồng, dễ chăm sóc, chu kỳ kinh doanh dài, cho khai thác liên tục nhiều năm (trên 20 năm). Các sản phẩm từ cây cao su được sử dụng trong cuộc sống, đặc biệt giá trị và hiệu quả kinh tế đem lại của cây cao su cao hơn hẳn các cây lâm nghiệp khác. Cây cao su phát triển mạnh và tập trung chủ yếu ở châu Á.
Với diện tích gần 5 triệu ha, chiếm đến 92% diện tích và 90% sản lượng mủ cao su của thế giới. Diện tích và sản lượng cao su của thế giới năm 2018 đạt tương ứng: 11,80 triệu ha và 14,3 triệu tấn [161]. Theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên [22], mủ cao su có giá trị kinh tế cao và trở thành một trong bốn nguyên liệu chính của ngành công nghiệp thế giới, chỉ đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ. Thị trường cao su toàn cầu có nhiều triển vọng theo đà phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đó, cao su phục vụ cho ngành vận tải chiếm 70% sản lượng cao su thế giới. Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 3 thế giới với tổng diện tích 969.700 ha (diện tích thu hoạch 653.200 ha), sản lượng mủ cao su 1.500 tấn với năng suất trung bình 1. Xuất khẩu là trọng tâm của ngành cao su ở Việt Nam. Ba nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực của ngành cao su hiện nay bao gồm nguyên liệu cao su thiên nhiên, sản phẩm chế biến từ cao su, gần đây là gỗ cao su và đồ gỗ được làm từ gỗ cao su.
Trong năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của 3 nhóm mặt hàng này đạt trên 6,2 tỷ USD, đóng góp 3% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Sự phát triển và lớn mạnh của ngành cao su đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 500.000 lao động tham gia trong các khâu khác nhau của chuỗi cung, trong đó bao gồm lao động từ khoảng 264.000 hộ cao su tiểu điền (CSTĐ) [68]. Tỉnh Thừa Thiên Huế có khoảng 367 ngàn ha đất đồi núi, chiếm 73,3% diện tích đất tự nhiên, gần 70% số dân ở nông thôn, ruộng đất tập trung không lớn, kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, đời sống của nhân dân còn khó khăn, không đồng đều giữa các vùng, đây là những thách thức trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội [67]. Thừa Thiên Huế với đặc thù 100% diện tích là CSTĐ, với diện tích ước đạt 8600 ha (năm 2019).
Trên thực tế quỹ đất để phát triển cây cao su vẫn còn rất lớn; tùy thuộc vào chính sách chung của ngành nông nghiệp và điều kiện cụ thể của địa phương. Trong hơn 20 năm qua, cây cao su cho thấy phù hợp với vùng sinh thái gò đồi. Phát triển CSTĐ là một trong những giải pháp quan trọng, nhằm giúp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân nghèo trong Tỉnh có điều kiện ổn định sản xuất, phát triển kinh tế gia đình theo mô hình kinh tế trang trại, sản xuất nông sản hàng hoá thân thiện với môi trường, đồng thời là cây chiến lược trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo bền 2 vững ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, cây cao su tiểu điền phát triển nhanh về số lượng nhưng chưa bảo đảm về chất lượng.
Phần lớn diện tích trồng manh mún tự phát thiếu quy hoạch, cơ cấu giống chậm đổi mới, việc áp dụng khoa học kỹ thuật con tùy tiện, chưa đồng bộ. Cụ thể công tác bón phân của người dân còn tuỳ tiện, lượng bón thấp hơn nhiều so với quy trình hướng dẫn. Đó là cơ sơ để đề tài đưa ra mục tiêu nghiên cứu về bón phân cho cây cao su. Ngoài ra, trồng xen và quản lý giữa hàng cao su chưa được chú trọng đúng mức.
Giống gừng Dé (gừng Sẻ/gừng Huế) có hương vị cay nồng đặc trưng rất được ưa chuộng, nhưng lại được trồng rất ít. Đồng thời dứa là cây thích hợp với vùng gò đồi, trồng một vụ cho thu hoạch nhiều vụ có đầu ra thuận lợi nên được đề tài chọn làm đối tượng xen canh trong vườn cao su. Bên cạnh đó, yếu tố thời tiết biến đổi bất thường, bệnh rụng lá trên cao su có chiều hướng gia tăng và chưa có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Nghiên cứu phân lập 110 mẫu bệnh lá cao su ở các vùng tại Thừa Thiên Huế đã chỉ ra nấm Corynespora cassiicola là nguyên nhân gây bệnh rụng lá đối với cao su [62].
Đó là cơ sở để đề tài đưa ra hướng nghiên cứu biện pháp quản lý bệnh rụng lá Corynespora trên cây cao su. Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất CSTĐ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là rất cần thiết. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2. Mục tiêu chung Xác định được biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật CSTĐ, góp phần tăng thu nhập cho các nông hộ trồng cao su tiểu điền ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được hiện trạng sản xuất CSTĐ tại Thừa Thiên Huế. - Xác định được cây trồng xen hiệu quả cho vườn cao su kiến thiết cơ bản ở Thừa Thiên Huế. - Xác định được liều lượng bón phân hữu cơ sinh học đậm đặc và bón phân vi sinh siêu đậm đặc cho vườn cao su kiến thiết cơ bản và cao su kinh doanh. - Đánh giá được hiệu lực của một số thuốc hóa học trong việc phòng trừ bệnh rụng lá cao su do nấm C.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3. Ý nghĩa khoa học Đề tài đóng góp cơ sở khoa học thông qua việc đưa ra giải pháp một cách có hệ thống và hoàn chỉnh về hiện trạng sản xuất cao su tiểu điền, đồng thời, đưa ra một số biện pháp kỹ thuật về trồng xen, bón phân hữu cơ sinh học, xử lý chế phẩm vi sinh, 3 phòng trừ bệnh rụng lá do nấm C. cassiicola gây ra cho cây CSTĐ. Đây là những cứ liệu khoa học để hoàn thiện quy trình kỹ thuật CSTĐ tại Thừa Thiên Huế.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài là cơ sở để hoàn thiện quy trình kỹ thuật CSTĐ bền vững, góp phần phát triển sản xuất CSTĐ tại Thừa Thiên Huế. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN Phạm vi về không gian: Thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp đã được thực hiện trên tất cả các huyện trồng cao su tại Thừa Thiên Huế Các thí nghiệm đã được thực hiện tại các vườn CSTĐ trên địa bàn thị xã Hương Trà và huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Phạm vi về thời gian: Đề tài đã được thực hiện từ năm 2016 – 2021. Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu về các loại cây trồng xen (gừng, dứa), liều lượng bón phân hữu cơ sinh học Trimix-N1 (0,5 – 4,0kg), chế phẩm vi sinh Trichomix-DT (5 kg và 10 kg/ha), các hoạt chất: difenoconazole, propiconazole, epoxiconazole, trifloxystrobin, tebuconazole phòng trừ bệnh rụng lá do nấm C.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN (1) Xác định được khoảng cách trồng xen giống gừng Dé trong vườn cao su kiến thiết cơ bản 2 năm tuổi thích hợp là 30 × 40 cm; mật độ 45.800 cây/ha với diện tích trồng xen đạt 55%. (2) Xác định được giống dứa Queen xen canh trong vườn cao su kiến thiết 2 năm tuổi với khoảng cách 50 × 40 cm, mật độ 27.500 cây/ha cho năng suất thực thu sau 2 vụ tơ và vụ gốc đạt cao nhất. (3) Sử dụng kết hợp giữa (i) biện pháp hóa học phun difenoconazole (Score 250EC) nồng độ 0,1% lúc cao su thay lá mới vào tháng 2 đến tháng 3; (ii) bón phân hữu cơ sinh học đậm đặc Trimix-N1 với liều lượng 833 kg/ha và 1.665 kg/ha, (iii) phân hữu cơ vi sinh siêu đậm đặc Trichomix-DT với liều lượng 10 kg/ha và 20 kg/ha, tương ứng với vườn cao su kiến thiết cơ bản và cao su kinh doanh. Làm tăng năng suất mủ của vườn cao su kinh doanh 66,2 – 70,5% so với đối chứng.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm và vai trò của cao su tiểu điền 1. Khái niệm cao su tiểu điền Cao su tiểu điền được hiểu là vườn cao su có quy mô diện tích nhỏ, phân tán từ một đến vài chục ha, được trồng chủ yếu bởi các hộ nông dân.
Cao su tiểu điền thuộc sở hữu của nông dân, do nông dân bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn phát triển trồng cao su [172]. Đặc điểm của cao su tiểu điền Hộ CSTĐ mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của một nông hộ, ngoài ra cây cao su là cây công nghiệp lâu năm, sản phẩm là hàng hóa 100% nên còn mang một số đặc trưng khác như sau: - Mục đích của CSTĐ là sản xuất hàng hóa với quy mô tương đối lớn. - Mức độ tập trung và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn so với các nông hộ khác, thể hiện ở quy mô đất đai, lao động và giá trị hàng hóa do cây cao su không thể sản xuất được với quy mô quá nhỏ và phân tán. - Cao su là cây kinh tế - kỹ thuật, vì vậy đòi hỏi chủ hộ phải luôn học hỏi để nâng cao trình độ về kỹ thuật chăm sóc và khai thác cao su.
Sử dụng lao động của gia đình và lao động thuê ngoài có hiểu biết về kỹ thuật để sản xuất cao su. - Quy mô diện tích tương đối lớn, tài sản của các hộ CSTĐ chủ yếu là các vườn cây cao su, được phân bố trên một vùng rộng lớn, bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện thời tiết, khí hậu nên tính rủi ro cao. Vai trò của cao su tiểu điền Đối với phát triển kinh tế: Mủ cao su là sản phẩm chủ yếu của cây cao su với các đặc tính hơn hẳn cao su tổng hợp về độ co giãn, độ đàn hồi cao, chống nứt, chống lạnh tốt, ít phát nhiệt khi cọ xát và dễ sơ luyện. Mủ cao su là nguyên liệu quan trọng cần thiết trong công nghệ chế biến ra các sản phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con người.