Luận văn tốt nghiệp một số biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực nhằm giải quyết vấn đề cho sinh viên trong dạy học vật lý đại cương

Luận văn tốt nghiệp giáo dục nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp một số biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực nhằm giải quyết vấn đề cho sinh viên, điều tra thực trạng, phân tích số liệu,

Chuyên ngành

Vật lý đại cương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết

2019

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LỊCH SỬ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

1.1.1. Các nghiên cứu về năng lực

1.1.2. Các nghiên cứu về dạy học với việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ và cấu trúc năng lực GQVĐ

1.1.2.1. Các nghiên cứu về năng lực GQVĐ
1.1.2.2. Các nghiên cứu về dạy học với việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ
1.1.2.3. Các nghiên cứu về cấu trúc năng lực GQVĐ

1.2. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1. Các nghiên cứu về năng lực

1.2.2. Các nghiên cứu về năng lực GQVĐ

1.2.3. Các nghiên cứu về dạy học với việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ và cấu trúc năng lực GQVĐ

1.2.4. Cấu trúc năng lực GQVĐ của sinh viên

2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GQVĐ CHO SINH VIÊN

2.1. Bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho sinh viên

2.1.1. Khái niệm năng lực

2.1.2. Cấu trúc năng lực

2.1.3. Năng lực GQVĐ của sinh viên

2.1.3.1. Một số khái niệm
2.1.3.2. Năng lực GQVĐ của sinh viên
2.1.3.3. Cấu trúc năng lực GQVĐ của sinh viên
2.1.3.4. Các biện pháp bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho sinh viên
2.1.3.5. Đánh giá năng lực GQVĐ của sinh viên

2.2. Cơ sở thực tiễn

2.2.1. Điều tra thực tiễn

2.2.2. Mục đích điều tra

2.2.3. Đối tượng điều tra

2.2.4. Phương pháp điều tra

2.2.5. Kết quả điều tra

2.2.5.1. Tỉ lệ VLĐC trong khối kiến thức đại cương
2.2.5.2. Vai trò của VLĐC trong chuyên ngành đào tạo
2.2.5.3. Thực trạng bồi dưỡng năng lực GQVĐ gắn với chuyên ngành

3. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC TRONG CHƯƠNG TRÌNH VLĐC NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GQVĐ CHO SINH VIÊN

3.1. Phân tích đặc điểm một số nội dung kiến thức trong VLĐC

3.2. Tổ chức dạy học một số nội dung kiến thức trong VLĐC

3.2.1. Tiến trình PBL

3.2.2. Xây dựng tình huống có vấn đề trong PBL

3.2.2.1. Tình huống có vấn đề gắn với ngành CNTP
3.2.2.2. Tình huống có vấn đề gắn với ngành Điện – Điện tử
3.2.2.3. Tình huống có vấn đề gắn với ngành Cơ khí

3.3. Thực nghiệm sư phạm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) là một trong những năng lực cốt lõi cần thiết cho sinh viên, đặc biệt là trong lĩnh vực vật lý đại cương (VLĐC). Năng lực này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc bồi dưỡng năng lực này cho sinh viên là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và sự phát triển của xã hội. Theo nghiên cứu, năng lực GQVĐ bao gồm nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ và động lực. Những yếu tố này cần được phát triển đồng bộ để sinh viên có thể tự tin giải quyết các vấn đề phức tạp trong học tập và cuộc sống.

1.1. Khái niệm và cấu trúc năng lực GQVĐ

Khái niệm năng lực GQVĐ được hiểu là khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết các tình huống thực tiễn. Cấu trúc năng lực này bao gồm các thành phần như nhận thức, kỹ năng thực hành và thái độ tích cực. Việc phân tích cấu trúc năng lực GQVĐ giúp xác định các yếu tố cần thiết để bồi dưỡng cho sinh viên. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên thường gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, do đó, việc thiết kế các hoạt động học tập phù hợp là rất cần thiết. Các phương pháp dạy học hiện đại như học dựa trên vấn đề (PBL) có thể giúp sinh viên phát triển năng lực này một cách hiệu quả.

II. Phương pháp bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho sinh viên

Để bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho sinh viên vật lý đại cương, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Phương pháp PBL là một trong những phương pháp hiệu quả nhất, giúp sinh viên học tập thông qua việc giải quyết các tình huống có vấn đề thực tế. Phương pháp này không chỉ khuyến khích sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học tập mà còn giúp họ phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tư duy phản biện. Ngoài ra, việc sử dụng các công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng góp phần nâng cao hiệu quả bồi dưỡng năng lực GQVĐ. Các công cụ trực tuyến có thể hỗ trợ sinh viên trong việc tìm kiếm thông tin, trao đổi ý tưởng và thực hiện các dự án nhóm.

2.1. Thiết kế tiến trình dạy học

Thiết kế tiến trình dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực GQVĐ cần được thực hiện một cách khoa học và hợp lý. Các bước trong tiến trình này bao gồm: xác định mục tiêu học tập, lựa chọn nội dung kiến thức phù hợp, thiết kế các hoạt động học tập và đánh giá kết quả. Mỗi bước cần được thực hiện với sự chú ý đến đặc điểm của sinh viên và yêu cầu của môn học. Việc áp dụng các tình huống có vấn đề trong giảng dạy sẽ giúp sinh viên phát triển khả năng phân tích và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc đánh giá năng lực GQVĐ của sinh viên cần được thực hiện liên tục và đa dạng để phản ánh đúng sự tiến bộ của họ.

III. Kết quả thực nghiệm và đánh giá

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho sinh viên đã mang lại hiệu quả tích cực. Sinh viên không chỉ cải thiện được khả năng giải quyết vấn đề mà còn phát triển được tư duy phản biện và kỹ năng làm việc nhóm. Đánh giá năng lực GQVĐ của sinh viên sau khi áp dụng các phương pháp dạy học mới cho thấy sự tiến bộ rõ rệt. Các sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập tích cực có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn tốt hơn so với những sinh viên học theo phương pháp truyền thống. Điều này chứng tỏ rằng việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ là một yếu tố quan trọng trong quá trình đào tạo sinh viên hiện nay.

3.1. Đánh giá tính khả thi của các biện pháp

Đánh giá tính khả thi của các biện pháp bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho sinh viên cho thấy rằng các phương pháp dạy học hiện đại có thể được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy vật lý đại cương. Các giảng viên cần được đào tạo và trang bị kiến thức về các phương pháp này để có thể thực hiện hiệu quả trong lớp học. Hơn nữa, việc tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sinh viên có động lực học tập cao hơn khi được tham gia vào các hoạt động giải quyết vấn đề thực tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu về năng lực Trên thế giới, thuật ngữ “Năng lực” được nhiều tác giả nghiên cứu và dùng với nhiều từ như: Ability, Competence, Captitude, Capability, Efficiency, Potentiality, Competency, Literacy.Mỗi thuật ngữ lại được định nghĩa khác nhau theo các khía cạnh, tùy vào từng lĩnh vực, tình huống hay ngữ cảnh. Thuật ngữ “năng lực – competence” lần đầu tiên xuất hiện trong một bài viết của R. White vào năm 1959 như một khái niệm về “động lực thực hiện” [9].

Ông cho rằng các lí thuyết về động lực được xây dựng trên các ràng buộc trước kia không thể tạo ra thái độ hứng thú, muốn tìm tòi khám phá của người học. Với thuật ngữ mới về năng lực này đã thực sự thúc đẩy quá trình học tập của người học thông qua sự tương tác với môi trường sống. Phong trào “Năng lực nghề nghiệp” được khởi xướng bởi Nhà tâm lí học người Mĩ David C. McClelland qua bài báo “Kiểm tra năng lực hơn là kiểm tra trí thông minh” xuất bản năm 1973 đã làm dậy sóng các luồng ý kiến tranh luận của các nhà làm chuyên môn lẫn dư luận thời đó [10].

Ông cho rằng các trường học chỉ kiểm tra đầu vào của người học thông qua kiểm tra năng khiếu và trí thông minh là không thuyết phục. Ông cũng đã đưa ra năm vấn đề chính: các lớp học ở trường không dự đoán được thành công trong nghề nghiệp; kiểm tra trí thông minh và kiểm tra năng khiếu không dự đoán được thành công trong nghề nghiệp hoặc các kết quả quan trọng khác trong cuộc sống; việc kiểm tra học thuật chỉ dự đoán được sự hoàn thành công việc do mối quan hệ với tình trạng xã hội; kiểm tra như vậy sẽ không công bằng đối với các dân tộc thiểu số; kiểm tra năng lực để dự đoán các hành vi, thái độ sẽ tốt hơn so với các bài kiểm tra truyền thống. Ông cũng đã nghiên cứu và đề xuất sáu nguyên tắc kiểm tra năng lực, đó là: hình thức kiểm tra tốt nhất là dựa vào các tiêu chí; kiểm tra phải được thiết kế để phản ánh những thay đổi ở những điều cá nhân được học; làm sao để các bài kiểm tra có đặc trưng riêng này phải được công khai, minh bạch; kiểm tra nên đánh giá năng lực liên quan đến kết quả trong cuộc sống (đọc, viết, tính toán); 7 Luan van kiểm tra nên có liên quan đến người học cũng như hành vi, thái độ thể hiện của họ; kiểm tra nên trưng cầu ý kiến để đưa ra tổng quan kết quả hành động khác nhau. Từ công trình nghiên cứu của McClelland, sau này đã được phổ biến rộng rãi bởi Richard Boyatzis [11] và nhiều người khác, như Gilbert T.

Việc sử dụng thuật ngữ này rất khác nhau nên đã dẫn đến nhiều sự hiểu lầm đáng kể. Điển hình như nhóm tác giả Barrett G.L [13] qua nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự hạn chế của việc kiểm tra năng lực thay vì kiểm tra trí thông minh, mặc dù báo cáo trên đã có một sự ảnh hưởng rất lớn từ những khẳng định của McClelland. Khi nghiên cứu về năng lực, một số tác giá như Binet và Simon T.G định nghĩa năng lực là phẩm chất của cá nhân, trong đó Covaliov A.G coi năng lực là đặc điểm tâm lí cá nhân có liên quan đến kết quả hoàn thành tốt một hoạt động nhất định [14], [15]. Những quan điểm này cho thấy năng lực là khả năng bên trong (chất lượng tâm lí và sinh lí) của mỗi con người để đạt được một hoạt động nhất định.

Nhóm tác giả Rogiers X. Lobanova và Yu Shunin [16], [17] lại dựa trên thành phần cấu trúc của năng lực để xác định năng lực. Các quan điểm của nhóm này cho thấy năng lực bao gồm các kĩ năng, chẳng hạn: “Năng lực là tập hợp các kĩ năng ảnh hưởng đến nội dung của một tình huống nhất định để GQVĐ do tình huống đó gây ra”. Lobanova và Yu Shunin nhấn mạnh rằng thuật ngữ “năng lực” và “kĩ năng” không nên coi là từ đồng nghĩa, bởi vì kĩ năng thể hiện khả năng thực hiện các hành động nhận thức hoặc hành vi một cách thành thạo, chính xác và thích ứng với các điều kiện thay đổi, trong khi đó năng lực là một hệ thống các hành động phức tạp, bao gồm các năng lực và các thành phần không nhận thức (thái độ, động cơ, cảm xúc, giá trị và đạo đức).

Nhóm tác giả Erpenbeck, John và Lutz von, Weinert, Thomas Armstrong [18], [19], [20] lại dựa trên nguồn gốc của năng lực để định nghĩa năng lực và đều xác nhận rằng năng lực được hình thành từ các hoạt động và thông qua hoạt động, năng lực có thể được hình thành và phát triển. Đồng quan điểm với nhóm này còn có Chương trình giáo dục của New Zealand, Dự án Deseco (2002)… DESECO (Definition and Selection of Competencies: theoretical and conceptual foundations) do OECD tổ chức dưới dạng một dự án nghiên cứu về những năng lực cần thiết cho các cá nhân để đối phó với những thách thức quan trọng trong các lĩnh vực khác nhau của 8 Luan van cuộc sống, đã xác định: năng lực như một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể. DeSeCo nhấn mạnh, mặc dù kiến thức và kĩ năng nhận thức là những yếu tố quan trọng, nhưng cần chú ý đến các thành phần khác như động lực, giá trị cá nhân và đạo đức xã hội khi tiếp cận năng lực. Từ điển trực tuyến của Oxford định nghĩa năng lực là khả năng làm một việc nào đó thành công và hiệu quả [21].

Còn theo từ điển trực tuyến của Cambridge định nghĩa năng lực là một kĩ năng quan trọng cần thiết để thực hiện một công việc [22]. Trong từ điển kinh doanh định nghĩa năng lực là một nhóm các khả năng, kiến thức và kĩ năng liên quan cho phép một người hay một tổ chức hành động hiệu quả trong một công việc hoặc một tình huống cụ thể [23]. Theo tác giả Franz E. Weinert Max Planck, năng lực là một thuật ngữ được sử dụng cả về mặt khoa học lẫn ngôn ngữ hàng ngày (nghe, nói, đọc, viết).

Khái niệm về năng lực đề cập đến cá nhân hoặc liên quan đến cá nhân, là sự phù hợp của các điều kiện ban đầu để hoạt động hiệu quả khi thực hiện các nhiệm vụ có ý nghĩa. Năng lực có thể được hiểu là khả năng trí tuệ, đó là nguồn nhận thức chung của một cá nhân để làm chủ các nhiệm vụ đầy thử thách ở các nội dung khác nhau để thu được những kiến thức cần thiết và đạt hiệu quả cao [24]. Trong tâm lí học, người ta định nghĩa khái niệm năng lực là khả năng đọc hiểu, khả năng toán học và năng lực khoa học trong từng ngữ cảnh. Năng lực phải được thực hiện bằng cách học và trải nghiệm ở từng tình huống liên quan tới lĩnh vực cụ thể như đánh giá qua kết quả học tập cá nhân hay đánh giá việc học ngoài trường, ngoài lớp.

Đó là quá trình mà các nhà giáo dục tạo ra nhằm tạo cho người học chiếm lĩnh các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động [25]. Như vậy, với cùng một thuật ngữ năng lực nhưng tùy vào điều kiện, bối cảnh, lĩnh vực khác nhau mà các tác giả lại đưa ra những khái niệm khác nhau và diễn đạt bằng những ngôn ngữ khác nhau. Để phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài, đề tài thống nhất sử dụng thuật ngữ Competency để mô tả năng lực.2 Các nghiên cứu về dạy học với việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ và cấu trúc năng lực GQVĐ Dựa trên các thiết kế khung năng lực của từng quốc gia, năng lực thường được phân thành hai loại: năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Các nhà tuyển dụng hoạt động trong thị trường lao động toàn cầu hiện đang tìm kiếm những ứng viên không chỉ có năng lực ngành nghề chuyên biệt mà còn có cả năng lực chung.

Nghiên cứu về năng lực chung bắt đầu một cách nghiêm túc vào những năm 1980. Nhóm tác giả Jolee Young và Elaine Chapman đã nghiên cứu, xem xét các khung năng lực chung ban đầu được phát triển ở một số nước tiêu biểu như Úc, New Zealand, Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, một số quốc gia Châu Âu và đưa ra kết luận rằng có sự những khác biệt trong từng quốc gia, từng khu vực [26].1 Các nghiên cứu về năng lực GQVĐ Năng lực GQVĐ (GQVĐ) là một trong những năng lực chung cơ bản cần thiết cho mỗi người để có thể tồn tại trong xã hội ở mọi thời đại. Vì vậy, việc hình thành và phát triển năng lực này cho người học là thực sự cần thiết. Đã có rất nhiều các nghiên cứu lí thuyết về GQVĐ, tiêu biểu như công trình của nhóm tác giả Duncker, Karl, Lees, Lynne S.

và Simon (1972) về “GQVĐ con người” [28]; Linda Flower (1981) với “Chiến lược GQVĐ Viết” [29]… Nhóm tác giả Duncker, Karl, Lees, Lynne S. với lập luận rằng một vấn đề sẽ nảy sinh khi một người đặt ra mục tiêu nhưng không biết cách đạt được mục tiêu đó. Bất cứ khi nào người ta không thể đi từ tình huống đã cho đến tình huống mong đợi bằng hành động, thế thì phải dựa vào suy nghĩ. Trong các môn học của sinh viên các trường Đại học hoặc cao đẳng đưa ra nhiều vấn đề tư duy khác nhau thì đặt ra yêu cầu cần phải suy nghĩ, động não hướng đến vấn đề để GQVĐ, thể hiện qua hành động và lời nói của họ.

Theo PISA, năng lực GQVĐ được hiểu là “sự huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, xúc cảm, động cơ của người học để giải quyết các tình huống thực tiễn trong bối cảnh cụ thể mà các giải pháp không có sẵn ngay lập tức” [30]. OECD cho rằng: “Năng lực GQVĐ là khả năng một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề, mà ở đó người học chưa có thể tìm ngay ra giải pháp một cách rõ ràng. Nó bao gồm cả thái độ sẵn sàng 10 Luan van tham gia vào các tình huống có vấn đề để trở thành một công dân có tinh thần xây dựng và tự suy nghĩ” [31]. Bài báo của tác giả Carmen M.

Laterell với tựa đề “Năng lực GQVĐ là gì?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho sinh viên trong dạy học vật lý đại cương" của ThS Nguyễn Thị Thanh Huyền, được thực hiện tại Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, tập trung vào việc phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên thông qua phương pháp dạy học vật lý đại cương. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề mà còn đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại để cải thiện khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề của sinh viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng phim học tập trong dạy học phần cơ học vật lý lớp 10 nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, nơi nghiên cứu về việc sử dụng phim học tập để nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về tổ chức dạy học định luật bảo toàn vật lí 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề cho học sinh. Cuối cùng, Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lí Theo Quy Trình Nghiên Cứu Khoa Học Chương Điện Từ Học sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc áp dụng quy trình nghiên cứu khoa học trong dạy học vật lý, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp giảng dạy hiện đại.