Chương 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu về năng lực Trên thế giới, thuật ngữ “Năng lực” được nhiều tác giả nghiên cứu và dùng với nhiều từ như: Ability, Competence, Captitude, Capability, Efficiency, Potentiality, Competency, Literacy.Mỗi thuật ngữ lại được định nghĩa khác nhau theo các khía cạnh, tùy vào từng lĩnh vực, tình huống hay ngữ cảnh. Thuật ngữ “năng lực – competence” lần đầu tiên xuất hiện trong một bài viết của R. White vào năm 1959 như một khái niệm về “động lực thực hiện” [9].
Ông cho rằng các lí thuyết về động lực được xây dựng trên các ràng buộc trước kia không thể tạo ra thái độ hứng thú, muốn tìm tòi khám phá của người học. Với thuật ngữ mới về năng lực này đã thực sự thúc đẩy quá trình học tập của người học thông qua sự tương tác với môi trường sống. Phong trào “Năng lực nghề nghiệp” được khởi xướng bởi Nhà tâm lí học người Mĩ David C. McClelland qua bài báo “Kiểm tra năng lực hơn là kiểm tra trí thông minh” xuất bản năm 1973 đã làm dậy sóng các luồng ý kiến tranh luận của các nhà làm chuyên môn lẫn dư luận thời đó [10].
Ông cho rằng các trường học chỉ kiểm tra đầu vào của người học thông qua kiểm tra năng khiếu và trí thông minh là không thuyết phục. Ông cũng đã đưa ra năm vấn đề chính: các lớp học ở trường không dự đoán được thành công trong nghề nghiệp; kiểm tra trí thông minh và kiểm tra năng khiếu không dự đoán được thành công trong nghề nghiệp hoặc các kết quả quan trọng khác trong cuộc sống; việc kiểm tra học thuật chỉ dự đoán được sự hoàn thành công việc do mối quan hệ với tình trạng xã hội; kiểm tra như vậy sẽ không công bằng đối với các dân tộc thiểu số; kiểm tra năng lực để dự đoán các hành vi, thái độ sẽ tốt hơn so với các bài kiểm tra truyền thống. Ông cũng đã nghiên cứu và đề xuất sáu nguyên tắc kiểm tra năng lực, đó là: hình thức kiểm tra tốt nhất là dựa vào các tiêu chí; kiểm tra phải được thiết kế để phản ánh những thay đổi ở những điều cá nhân được học; làm sao để các bài kiểm tra có đặc trưng riêng này phải được công khai, minh bạch; kiểm tra nên đánh giá năng lực liên quan đến kết quả trong cuộc sống (đọc, viết, tính toán); 7 Luan van kiểm tra nên có liên quan đến người học cũng như hành vi, thái độ thể hiện của họ; kiểm tra nên trưng cầu ý kiến để đưa ra tổng quan kết quả hành động khác nhau. Từ công trình nghiên cứu của McClelland, sau này đã được phổ biến rộng rãi bởi Richard Boyatzis [11] và nhiều người khác, như Gilbert T.
Việc sử dụng thuật ngữ này rất khác nhau nên đã dẫn đến nhiều sự hiểu lầm đáng kể. Điển hình như nhóm tác giả Barrett G.L [13] qua nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự hạn chế của việc kiểm tra năng lực thay vì kiểm tra trí thông minh, mặc dù báo cáo trên đã có một sự ảnh hưởng rất lớn từ những khẳng định của McClelland. Khi nghiên cứu về năng lực, một số tác giá như Binet và Simon T.G định nghĩa năng lực là phẩm chất của cá nhân, trong đó Covaliov A.G coi năng lực là đặc điểm tâm lí cá nhân có liên quan đến kết quả hoàn thành tốt một hoạt động nhất định [14], [15]. Những quan điểm này cho thấy năng lực là khả năng bên trong (chất lượng tâm lí và sinh lí) của mỗi con người để đạt được một hoạt động nhất định.
Nhóm tác giả Rogiers X. Lobanova và Yu Shunin [16], [17] lại dựa trên thành phần cấu trúc của năng lực để xác định năng lực. Các quan điểm của nhóm này cho thấy năng lực bao gồm các kĩ năng, chẳng hạn: “Năng lực là tập hợp các kĩ năng ảnh hưởng đến nội dung của một tình huống nhất định để GQVĐ do tình huống đó gây ra”. Lobanova và Yu Shunin nhấn mạnh rằng thuật ngữ “năng lực” và “kĩ năng” không nên coi là từ đồng nghĩa, bởi vì kĩ năng thể hiện khả năng thực hiện các hành động nhận thức hoặc hành vi một cách thành thạo, chính xác và thích ứng với các điều kiện thay đổi, trong khi đó năng lực là một hệ thống các hành động phức tạp, bao gồm các năng lực và các thành phần không nhận thức (thái độ, động cơ, cảm xúc, giá trị và đạo đức).
Nhóm tác giả Erpenbeck, John và Lutz von, Weinert, Thomas Armstrong [18], [19], [20] lại dựa trên nguồn gốc của năng lực để định nghĩa năng lực và đều xác nhận rằng năng lực được hình thành từ các hoạt động và thông qua hoạt động, năng lực có thể được hình thành và phát triển. Đồng quan điểm với nhóm này còn có Chương trình giáo dục của New Zealand, Dự án Deseco (2002)… DESECO (Definition and Selection of Competencies: theoretical and conceptual foundations) do OECD tổ chức dưới dạng một dự án nghiên cứu về những năng lực cần thiết cho các cá nhân để đối phó với những thách thức quan trọng trong các lĩnh vực khác nhau của 8 Luan van cuộc sống, đã xác định: năng lực như một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể. DeSeCo nhấn mạnh, mặc dù kiến thức và kĩ năng nhận thức là những yếu tố quan trọng, nhưng cần chú ý đến các thành phần khác như động lực, giá trị cá nhân và đạo đức xã hội khi tiếp cận năng lực. Từ điển trực tuyến của Oxford định nghĩa năng lực là khả năng làm một việc nào đó thành công và hiệu quả [21].
Còn theo từ điển trực tuyến của Cambridge định nghĩa năng lực là một kĩ năng quan trọng cần thiết để thực hiện một công việc [22]. Trong từ điển kinh doanh định nghĩa năng lực là một nhóm các khả năng, kiến thức và kĩ năng liên quan cho phép một người hay một tổ chức hành động hiệu quả trong một công việc hoặc một tình huống cụ thể [23]. Theo tác giả Franz E. Weinert Max Planck, năng lực là một thuật ngữ được sử dụng cả về mặt khoa học lẫn ngôn ngữ hàng ngày (nghe, nói, đọc, viết).
Khái niệm về năng lực đề cập đến cá nhân hoặc liên quan đến cá nhân, là sự phù hợp của các điều kiện ban đầu để hoạt động hiệu quả khi thực hiện các nhiệm vụ có ý nghĩa. Năng lực có thể được hiểu là khả năng trí tuệ, đó là nguồn nhận thức chung của một cá nhân để làm chủ các nhiệm vụ đầy thử thách ở các nội dung khác nhau để thu được những kiến thức cần thiết và đạt hiệu quả cao [24]. Trong tâm lí học, người ta định nghĩa khái niệm năng lực là khả năng đọc hiểu, khả năng toán học và năng lực khoa học trong từng ngữ cảnh. Năng lực phải được thực hiện bằng cách học và trải nghiệm ở từng tình huống liên quan tới lĩnh vực cụ thể như đánh giá qua kết quả học tập cá nhân hay đánh giá việc học ngoài trường, ngoài lớp.
Đó là quá trình mà các nhà giáo dục tạo ra nhằm tạo cho người học chiếm lĩnh các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động [25]. Như vậy, với cùng một thuật ngữ năng lực nhưng tùy vào điều kiện, bối cảnh, lĩnh vực khác nhau mà các tác giả lại đưa ra những khái niệm khác nhau và diễn đạt bằng những ngôn ngữ khác nhau. Để phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài, đề tài thống nhất sử dụng thuật ngữ Competency để mô tả năng lực.2 Các nghiên cứu về dạy học với việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ và cấu trúc năng lực GQVĐ Dựa trên các thiết kế khung năng lực của từng quốc gia, năng lực thường được phân thành hai loại: năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Các nhà tuyển dụng hoạt động trong thị trường lao động toàn cầu hiện đang tìm kiếm những ứng viên không chỉ có năng lực ngành nghề chuyên biệt mà còn có cả năng lực chung.
Nghiên cứu về năng lực chung bắt đầu một cách nghiêm túc vào những năm 1980. Nhóm tác giả Jolee Young và Elaine Chapman đã nghiên cứu, xem xét các khung năng lực chung ban đầu được phát triển ở một số nước tiêu biểu như Úc, New Zealand, Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, một số quốc gia Châu Âu và đưa ra kết luận rằng có sự những khác biệt trong từng quốc gia, từng khu vực [26].1 Các nghiên cứu về năng lực GQVĐ Năng lực GQVĐ (GQVĐ) là một trong những năng lực chung cơ bản cần thiết cho mỗi người để có thể tồn tại trong xã hội ở mọi thời đại. Vì vậy, việc hình thành và phát triển năng lực này cho người học là thực sự cần thiết. Đã có rất nhiều các nghiên cứu lí thuyết về GQVĐ, tiêu biểu như công trình của nhóm tác giả Duncker, Karl, Lees, Lynne S.
và Simon (1972) về “GQVĐ con người” [28]; Linda Flower (1981) với “Chiến lược GQVĐ Viết” [29]… Nhóm tác giả Duncker, Karl, Lees, Lynne S. với lập luận rằng một vấn đề sẽ nảy sinh khi một người đặt ra mục tiêu nhưng không biết cách đạt được mục tiêu đó. Bất cứ khi nào người ta không thể đi từ tình huống đã cho đến tình huống mong đợi bằng hành động, thế thì phải dựa vào suy nghĩ. Trong các môn học của sinh viên các trường Đại học hoặc cao đẳng đưa ra nhiều vấn đề tư duy khác nhau thì đặt ra yêu cầu cần phải suy nghĩ, động não hướng đến vấn đề để GQVĐ, thể hiện qua hành động và lời nói của họ.
Theo PISA, năng lực GQVĐ được hiểu là “sự huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, xúc cảm, động cơ của người học để giải quyết các tình huống thực tiễn trong bối cảnh cụ thể mà các giải pháp không có sẵn ngay lập tức” [30]. OECD cho rằng: “Năng lực GQVĐ là khả năng một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề, mà ở đó người học chưa có thể tìm ngay ra giải pháp một cách rõ ràng. Nó bao gồm cả thái độ sẵn sàng 10 Luan van tham gia vào các tình huống có vấn đề để trở thành một công dân có tinh thần xây dựng và tự suy nghĩ” [31]. Bài báo của tác giả Carmen M.
Laterell với tựa đề “Năng lực GQVĐ là gì?