Khóa luận tốt nghiệp luật học biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp luật học biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề luật học.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự

Biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự là những công cụ pháp lý thiết yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án và đảm bảo tính hiệu quả của quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Theo Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi bổ sung 2014), biện pháp bảo đảm bao gồm các hình thức như phong tỏa tài khoản, tạm giữ tài sản, tạm dừng đăng ký và chuyển dịch tài sản. Các biện pháp này có đặc điểm nổi bật là tính bắt buộc, không cần sự đồng ý của người phải thi hành án, và được áp dụng trước khi thực thi bản án chính thức. Mục đích chính là ngăn chặn việc tẩu tán, ẩn giấu tài sản và bảo đảm nguồn tài sản để thanh toán nghĩa vụ của người phải thi hành án.

1.1. Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là những biện pháp cưỡng chế mang tính phòng chống được áp dụng bởi chấp hành viên nhằm mục đích bảo vệ tài sản và ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, ẩn giấu tài sản. Các biện pháp bảo đảm này được pháp luật quy định rõ ràng, có tính bắt buộc và được thực hiện trong quá trình thi hành án, giúp bảo đảm hiệu quả cao nhất cho việc thực thi bản án.

1.2. Đặc điểm và ý nghĩa pháp lý

Biện pháp bảo đảm thi hành án có những đặc điểm nổi bật: tính cưỡng chế, không cần sự đồng ý của bên liên quan; tính phòng ngừa, được áp dụng sớm trong quá trình thi hành án; và tính bảo vệ quyền lợi, bảo vệ nguồn tài sản của người được thi hành án. Ý nghĩa pháp lý nằm ở việc tăng cường hiệu lực thi hành án, nâng cao tỷ lệ thi hành thành công và bảo đảm công lý.

II. Các loại biện pháp bảo đảm hiện hành tại Việt Nam

Pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam quy định bốn loại biện pháp bảo đảm chính nhằm đảm bảo nguồn tài sản thanh toán và ngăn chặn tẩu tán tài sản. Thứ nhất là phong tỏa tài khoản và tài sản ở nơi gửi giữ, biện pháp này được áp dụng đối với các tài khoản ngân hàng, khoản tiền gửi và tài sản được gữi tại các tổ chức tín dụng. Thứ hai là tạm giữ tài sản và giấy tờ của đương sự, được thực hiện trực tiếp bởi chấp hành viên. Thứ ba là tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản, áp dụng đối với bất động sản, phương tiện giao thông. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng gây thiệt hại cho bên liên quan.

2.1. Phong tỏa tài khoản và tài sản ở nơi gửi giữ

Phong tỏa tài khoản là biện pháp bảo đảm phổ biến nhất, được áp dụng bằng cách yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng tạm dừng hoạt động trên tài khoản của người phải thi hành án. Biện pháp này hiệu quả cao trong việc kiểm soát dòng tiền và ngăn chặn tẩu tán tài sản nhanh chóng.

2.2. Tạm giữ tài sản và giấy tờ

Tạm giữ tài sản được chấp hành viên thực hiện trực tiếp, bao gồm việc chiếm giữ vật chứng, giấy tờ quan trọng của người phải thi hành án. Biện pháp bảo đảm này giúp bảo vệ tài sản khỏi bị chuyển nhượng bất hợp pháp và tạo điều kiện thanh toán nợ kịp thời.

III. Thực tiễn thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tại Việt Nam

Theo báo cáo của Tổng cục Thi hành án dân sự, thi hành án dân sự đã đạt được những kết quả khả quan trong những năm gần đây. Năm 2024, tỷ lệ thi hành xong đạt 83,88%, tăng so với năm 2023. Tuy nhiên, quá trình thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án vẫn gặp phải những khó khăn đáng kể. Một trong những vướng mắc lớn nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan chấp hành, ngân hàng và các tổ chức liên quan chưa đủ hiệu quả. Ngoài ra, năng lực của lực lượng chấp hành viên còn hạn chế, trang thiết bị công nghệ thông tin chưa được cập nhật đầy đủ. Người phải thi hành án thường cố tình trì hoãn, ẩn giấu tài sản, làm tăng độ khó khăn trong quá trình thực hiện biện pháp bảo đảm.

3.1. Kết quả đạt được trong thi hành án

Công tác thi hành án dân sự đã có những bước tiến đáng kể. Tỷ lệ thi hành xong 620.657 việc đạt 83,88%, trong đó biện pháp bảo đảm đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được kết quả này. Các cơ quan chấp hành đã cải thiện kỹ năng, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án.

3.2. Những vướng mắc và hạn chế

Thực tế cho thấy vẫn còn những thách thức lớn trong việc thực hiện biện pháp bảo đảm. Phối hợp giữa các ngành, các cơ quan chuyên trách chưa chặt chẽ; nguồn lực nhân sự, tài chính còn thiếu hụt; người phải thi hành án thường không chủ động hợp tác, khiến hiệu lực thi hành án bị ảnh hưởng.

IV. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Để nâng cao hiệu quả của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, cần có những hoàn thiện toàn diện về mặt pháp luật và thực thi. Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm để làm cho chúng chi tiết, cụ thể hơn, giảm thiểu tình trạng hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng. Thứ hai, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan thi hành án, ngân hàng, cơ quan công an, cục thuế và các tổ chức khác. Thứ ba, cần đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống quản lý điện tử để giám sát, kiểm soát biện pháp bảo đảm hiệu quả hơn. Cuối cùng, cần tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của lực lượng chấp hành viên để họ có khả năng xử lý các tình huống phức tạp trong quá trình áp dụng biện pháp bảo đảm.

4.1. Hoàn thiện khung pháp luật

Cần sửa đổi Luật thi hành án dân sự để làm rõ hơn về điều kiện áp dụng, thủ tục, thời hạn của các biện pháp bảo đảm. Các quy định cần chi tiết hơn về trách nhiệm bồi thường, tiêu chí đánh giá hợp lý của biện pháp bảo đảm nhằm bảo vệ quyền lợi cả hai bên.

4.2. Nâng cao hiệu quả thực thi

Cần tăng cường phối hợp liên ngành, cơ quan thi hành án cần phải có mối liên hệ chặt chẽ với các tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký để áp dụng biện pháp bảo đảm một cách nhanh chóng, hiệu quả. Đồng thời, cần đạo tạo nguồn nhân sự chất lượng cao cho lực lượng chấp hành viên.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc đảm bảo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, đúng pháp luật là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, có hành vi tẩu tán, che giấu hoặc hủy hoại tài sản để trốn tránh trách nhiệm thi hành án.

Để ngăn chặn tình trạng này, pháp luật thi hành án dân sự đã quy định một số biện pháp bảo đảm nhằm duy trì hiện trạng tài sản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thi hành án một cách hiệu quả. Về ngữ nghĩa, theo Từ điển tiếng Việt, “biện pháp” được định nghĩa là “cách làm cách giải quyết một vấn đề cụ thể”3. Tương tự, theo Đại từ điển tiếng Việt, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể”4. Như vậy, từ việc tham khảo các định nghĩa trên, theo nghĩa chung nhất, biện pháp có nghĩa là cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó.

Mặt khác, tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng “bảo đảm” là “cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó"5. Tác giả cho rằng, bảo đảm có thể được hiểu là sự cam kết của một chủ thể về việc sẽ thực hiện đúng công việc, nghĩa vụ nhất định hoặc đảm bảo một quyền nào đó được thực hiện đầy đủ. Nếu không thực hiện đúng, chủ thể đó sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. Dưới góc độ pháp lý, bảo đảm còn là một cơ chế cần thiết để bảo vệ quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Trong nhiều trường hợp, nếu không có các biện pháp bảo đảm phù hợp, các quyền và nghĩa vụ pháp lý rất dễ bị vi phạm hoặc không thể thực hiện được, từ đó ảnh hưởng đến trật tự xã hội và quyền lợi chính đáng của các bên liên quan. Dưới góc độ ngôn ngữ học, trong từ điển Hán - Việt, bảo đảm còn được giải thích là “hứa chịu trách nhiệm về điều gì”, “cam đoan giữ được, làm được đầy đủ”, “sự giữ được đầy đủ trọn vẹn”6. Theo đó, bảo đảm được hiểu là việc tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được đầy đủ những gì cần thiết, sự cam đoan, trách nhiệm thực hiện được trọn vẹn. 3 Hoàng Phê (Chủ biên, 2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb.

Đà Nẵng, Hà Nội Đà Nẵng, tr. 4 Nguyễn như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, tr 161. 5 Nguyễn như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb.

Văn hóa- Thông tin, tr. 6 Nguyễn Lâm (2002), Từ điển tử và Hải Việt, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 6 Dưới góc độ khoa học pháp lý, bảo đảm là “trách nhiệm của một chủ thể là cả nhân tổ chức, phải làm cho quyền, lợi ích của các bên chủ thể bên kia chắc chắn thực hiện được, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường"7.

Theo đó, bảo đảm thưởng đặt ra đối với việc xác lập hay thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra kết luận biện pháp bảo đảm là cách thức, phương pháp được áp dụng nhằm đưa quyền, nghĩa vụ được thực thi trên thực tế, ngăn ngừa rủi ro, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật. Dưới góc độ nghiên cứu pháp lý, tác giả Trần Anh Tuấn cho rằng: “Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng những biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng định đoạt nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, định đoạt tài sản để trốn tránh việc thi hành án. Những biện pháp này có tinh chất bảo toàn tình trạng tài sản, đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thi hành nghĩa vụ thi hành án của họ, bảo đảm hiệu quả của việc thi hành án dân sự nên được gọi là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.

Các biện pháp bảo đảm thi hành án này giữ vai trò hỗ trợ đắc lực cho quá trình thi hành án, góp phần bảo vệ các quyền và nghĩa vụ dân sự được ghi nhận trong bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”8. Về ngữ nghĩa, theo từ điển Tiếng Việt “thi hành” được hiểu là “làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định”9, vì thế “thi hành án” sẽ được hiểu là làm cho thành hiện thực các án đã được chính thức quyết định. Các “án” này thường là các bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án khi xét xử vụ việc phát sinh tại tòa án10. Thuật ngữ “dân sự” thường được lý giải là “những gì thuộc về tư nhân, những việc thuộc về quan hệ tài sản, hoặc hôn nhân, gia đình, hay được phân biệt với hình sự, hành chính”11.

Với những giải thích về mặt ngữ nghĩa như vậy thì “thi hành án dân sự” được hiểu là làm cho thành hiện thực các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án. Trong nghiên cứu khoa học luật thi hành án dân sự thì “thi hành án dân sự” là một thuật ngữ pháp lý được giải thích theo nhiều góc độ khác nhau. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Việt Nam thì “thi hành án” là thực hiện bản án, quyết định của tòa án nên “thi hành án dân sự” sẽ được hiểu là “thực hiện bản án, quyết 7 Nguyễn Him Đắc (Chủ biên, 1999), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.

8 Nguyễn Thị Lệ Quyên (2021), Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và thực tiễn thực hiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 9 Hoàng Phê (chủ biên, 2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, tr.org/wiki/%C3%A1n#Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t, truy cập ngày 14/3/2025 11 https://www.de/~duc/Dict/, truy cập ngày 14/3/2025 7 định dân sự (trừ bản án, quyết định hình sự, hành chính) của tòa án”12. Tuy nhiên trên thực tế, ngoài các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực của Tòa án cần được thi hành thì các quyết định của các hình thức tài phán khác như quyết định của Trọng tài thương mại hay quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng cần thiết phải được thi hành nên thuật ngữ pháp lý “thi hành án dân sự” phải được hiểu đầy đủ, toàn diện hơn, đó là “việc thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án, của Trọng tài thương mại, của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh”13. Từ đó, một cách cụ thể hơn, có thể hiểu thuật ngữ thi hành án dân sự “là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật ”14.

Với khái niệm trên, có thể hiểu BPBĐTHADS là cách thức làm cho việc THADS được thực hiện đầy đủ trên thực tế nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định được tổ chức thi hành, tinh nghiêm minh của pháp luật và quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và cá nhân, tổ chức liên quan. Tuy nhiên, cũng như biện pháp cưỡng chế THADS, việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS cũng đòi hỏi phải được bảo đảm bởi sức mạnh, quyền lực của nhà nước để đạt mục đích ngăn ngừa việc tẩu tán, hủy hoại tài sản và tạo áp lực cho người phải thi hành án phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ thi hành án. Đồng thời, sau khi áp dụng BPBĐTHADS, nếu xác định được tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng họ không tự nguyện thi hành án thì việc thi hành án sẽ được đẩy tiếp đến áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS phù hợp. Vì vậy, có thể khái niệm BPBĐTHADS là biện pháp được Chấp hành viên áp dụng để hạn chế tạm thời quyền sử dụng định đoạt tài sản để làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS phù hợp khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án.

Thông qua những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm BPBĐTHADS như sau: “BPBĐTHADS trong thi hành án dân sự là các cách thức bảo toàn tài sản của người phải thi hành án dân sự, do pháp luật quy định, được chấp hành viên quyết định áp dụng nhằm ngăn chặn người phải thi hành án dân sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.15 12 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, NXB Công an nhân dân, tr. 13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp Trường, tr. 14 Lại Anh Thắng (2010), Thực hiện pháp luật về Thi hành án dân sự ở tỉnh BR-VT, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr. 15 Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp Trường, tr.

Đặc điểm biện pháp bảo đảm trong thi hành án dân sự Thứ nhất, đối tượng áp dụng của BPBĐTHADS là tài sản. Do các quan hệ dân sự thường mang tính chất tài sản nên các nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án thường liên quan đến tài sản. Tài sản của người phải thi hành án có thể đang do người phải thi hành án hoặc do người khác chiếm giữ. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành nghĩa vụ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ phải có cách thức để bảo toàn tài sản của họ, ngăn chặn hành vi huỷ hoại, tẩu tán tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ