chương I. Chương IV: Kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả sẽ trình bày về kết quả của mô hình đã đựa lựa chọn trong chương III và cùng với đó là phân tích về kết quả thu được khi tiến hành chạy mô hình. Chương V: Kết luận Tác giả đưa ra kết luận của bài nghiên cứu và hạn chế của bài nghiên cứu.
123doc 8 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2.1 Mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán Theo quan điểm của học thuyết Keynes đã chỉ ra rằng có ba loại chính của lạm phát bao gồm lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy và lạm phát vốn có. Trong đó nguyên nhân gây nên lạm phát chi phí đẩy là do sự sụt giảm của tổng cung, diều này có thể là do yếu tố tự nhiên hoặc do sự tăng giá của nguyên liệu đầu vào. Ví dụ, sự sụt giảm đột ngột trong việc cung cấp dầu khiến cho giá dầu tăng lên, có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy. Đặc biệt, dầu thô là một trong những mặt hàng có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy được vì dầu được sử dụng trong rất nhiều trong các hoạt động kinh tế như dầu là nhiên liệu chính cho giao thông vận tải và nền công nghiệp năng lượng.
Vì vậy, dầu ắt hẳn là một đầu vào quan trọng trong nền kinh tế và nếu giá dầu vì bất cứ một lý do nào đó tăng lên sẽ khiến chi phí đầu vào tăng do đó sẽ dẫn đến sự gia tăng của chi phí của sản phẩm cuối cùng do đó có thể kéo theo sự gia tăng của lạm phát do chi phí đẩy. Bởi vì lạm phát tăng cao sẽ khiến cho việc chi phí phải trả cho việc sử dụng vốn sẽ tăng lên phù hợp với tốc độ tăng của lạm phát. Cụ thể điều này khiến cho lãi suất huy động của các ngân hàng sẽ tăng và ảnh hưởng không chỉ đến hành vi của người tiêu dùng, nhà đầu tư mà còn là chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Những điều này sẽ khiến các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí đầu tư hoặc là tạo ra ít lợi nhuận vì sự gia tăng trong chi phí lãi vay hoặc do sự sụt giảm doanh thu vì hành vi của người tiêu dùng và cả hai điều này khiến cho dòng tiền kỳ vọng trong tương lai sẽ giảm.
Kết quả tất yếu sẽ là giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ sụt giảm. Và nếu số lượng doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán chịu sự tác động nêu trên đủ lớn sẽ chỉ số chứng khoán đại diện cho toàn thị trường sẽ giảm. Dựa trên quan điểm học thuyết của Keynes, giá dầu là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cùng với đó đã có những nghiên cứu trước đây như Robert S.Pindyck (1983), Martin Feldstein (1978) đã 123doc 9 chứng minh rằng lạm phát ảnh hưởng thị trường chứng khoán. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng giá dầu và thị trường chứng khoán dường như có tồn tại một mối quan hệ với nhau.
Ngoài ra sự ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán còn được truyền dẫn thông qua ảnh hưởng của giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô những lập luận này đã được các nghiên cứu trước đây đã chứng minh như HC Bjørnland (2009); Syed Abul Bashera, Alfred A. Haugb, Perry Sadorsky (2012); R Masih, S Peters, L De Mello (2011). Trong trường hợp là một nước xuất khẩu dầu, giá dầu cao có thể ảnh hưởng nền kinh tế trong thông qua sự gia tăng về thu nhập. Cụ thể trong trường hợp các nước xuất khẩu, giá dầu cao hơn hiển nhiên là sẽ khiến cho thu thập của nước xuất khẩu tăng và hiệu quả của việc tăng giá dầu trong trung và dài hạn sẽ phụ thuộc vào những gì mà các các nước sản xuất dầu làm với thu nhập tăng lên do ảnh hưởng của việc tăng giá dầu.
Do đó, cùng với sự gia tăng giá dầu tiềm năng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu mỏ, năng lượng cũng có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn và có thể cung cấp các cơ hội đầu tư và kinh doanh rất lớn trong nền kinh tế với sự gia tăng nhu cầu về lao động và vốn và khi đó giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này đều có xu hướng gia tăng do sự gia tăng trong lợi nhuận và mở rộng về hoạt động đầu tư và phát triển. Bên cạnh đó nếu thu nhập tăng thêm được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ trong nước của nước xuất khẩu, giá dầu tăng cao tạo ra một mức độ cao hơn của hoạt động trong nền kinh tế trong nước vì vừa thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và hoạt động tiêu dùng và khi đó doanh thu của các doanh nghiệp trong nước sẽ tăng do tiêu dùng tăng và kéo theo đó là lợi nhuận tăng. Ngược lại đối với các nước nhập khẩu dầu ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán là tiêu cực, cụ thể theo lập luận của các tác giả Arouri Nguyen 2010; Backus và Crucini 2000; Kim và Loungani 1992 cho rằng giá dầu tăng sẽ dẫn đến chi phí sản xuất ra các sản phẩm cao hơn bởi vì dầu như là một trong những yếu tố sản xuất rất quan trọng do đó khi đối mặt với giá dầu tăng các doanh nghiệp đối mặt với sự gia tăng trong chi phí và doanh nghiệp đối mặt với việc 123doc 10 tăng giá bán sản phẩm hoặc đối mặt với sự sụt giảm trong lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp chuyển giao chi phí do ảnh hưởng của giá dầu cho người tiêu dùng đồng nghĩa với việc tăng giá bán sản phẩm sẽ khiến nhu cầu thấp hơn và do đó người tiêu dùng ít chi tiêu đi do việc tăng chi phí khi sử dụng sản phẩm.
Bên cạnh đó việc tiêu thụ hàng hóa ít đi có thể dẫn đến sản xuất thấp hơn và do đó có thể gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và ảnh hưởng tới dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp điều này dẫn đến tác động tiêu cực đến giá chứng khoán của doanh nghiệp và nếu ảnh hưởng này tác động đến nhiều doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 2.1 Ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán Bjornland (2009) tiến hành nghiên cứu tác động của giá dầu lên thị trường chứng khoán ở một nước xuất khẩu dầu mỏ đó là Na Uy, sử dụng mô hình VAR cấu trúc (Structural Var) và các biến như lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá, giá dầu là biến độc lập và giá chứng khoán là biến phụ thuộc để đo lường ảnh hưởng các yếu tố lên thị trường chứng khoán. Kết quả của tác giả chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởng lớn hơn so với các yếu tố như tỷ giá, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đến thị trường chứng khoán cụ thể khi giá dầu tăng 10% sẽ khiến giá chứng khoán tăng ngay lập tức 2%-3% và đạt mức tối đa 4%-5% sau 14-15 tháng sau đó. Mohamed El Hedi Arouri và Christophe Rault (2010) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán tại các nước vùng vịnh xuất khẩu dầu mỏ (GCC). Lý do được tác giả nêu ra là hầu hết các thành viên GCC là các nước xuất khẩu dầu lớn và các thành viên của tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và quan trọng hơn nền kinh tế của các nước này phụ thuộc khá nhiều vào giá dầu.
Như vậy, khi có bất cứ một sự thay đổi nào trong giá dầu đều ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán tại các nước GCC và cũng có khả năng có mối tác động ngược lại từ giá chứng khoán lên giá dầu. Chính vì mối nghi ngờ này tác giả kiểm định luôn mối quan 123doc 11 hệ nhân quả giữa giá dầu và giá chứng khoán, dữ liệu được tác giả thu thập theo tuần được thu thập từ ngày 07 tháng 06 năm 2005 đến ngày 25 tháng 10 năm 2010, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có bằng chứng thống kê mạnh rằng có tác động qua lại giữa giá chứng khoán và giá dầu cho thị trường Saudi Arabia. Ở các nước khác thuộc khối GCC khi giá dầu thay đổi đều làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán nhưng khi giá chứng khoán thay đổi không có tác động tới giá dầu. Mohamed El Hedi Arouri, Amine Lahiani, Duc Khuong Nguyen (2011) tiến hành nghiên cứu sự truyền dẫn của giá dầu thế giới đến thị trường chứng khoán các nước GCC.
Dữ liệu được tác giả thu thập từ ngày 07 tháng 6 năm 2005 đến ngày 21 tháng 2 năm 2010 bao gồm giá dầu và chỉ số giá chứng khoán tại 6 nước bao gồm Vương quốc Bahrain, Nhà nước Kuwait, Vương quốc Oman, Vương quốc Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi và các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất trong khi đó mô hình được tác giả sử dụng là VAR(1)-GARCH(1,1). Kết quả của tác giả chỉ ra rằng khi có sự biến động trong giá dầu ảnh hưởng khá mạnh mẽ tới thị trường chứng khoán trên tất cả 6 nước Vương quốc Bahrain, Nhà nước Kuwait, Vương quốc Oman, Vương quốc Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi và các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.Mohanty, Mohan Nandha, Abdullah Q.Alaitani (2011) tiến hành nghiên cứu về sự thay đổi của giá dầu và biến động giá chứng khoán trên thị trường các nước GCC. Dữ liệu nghiên cứu được tác gia thu thập theo tuần bắt đầu từ tháng 06 năm 2005 đến tháng 12 năm 2009. Kết quả của tác giả đưa ra phù hợp với các kết quả được đưa ra bởi Huang (1996); Jones và Kaul (1996); Driesprong (2008); Kilian và Park (2009), tác giả tiến hành kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa hai biến sự thay đổi trong giá dầu và sự thay đổi trong giá chứng khoán.
Tác giả lập luận rằng những thay đổi trong giá dầu có thể sẽ có tác động đáng kể đến nền kinh tế thực của các nước GCC và thị trường chứng khoán thông qua các kênh khác nhau do những thay đổi trong chi phí sản xuất biên, cũng như những thay đổi trong chi tiêu của người tiêu dùng. 123doc 12 Bert Scholtens, Cenk Yurtsever (2011) tiến hành phân tích những phản ứng của các ngành công nghiệp châu Âu với những cú sốc giá dầu. Tác giả điều tra 38 ngành công nghiệp ở châu Âu trong giai đoạn từ năm 1983 cho đến 2007. Tác giả sử dụng nhiều mô hình khác nhau để ước lượng và đánh giá phản ứng của ngành công nghiệp trước cú sốc giá dầu.