chương 1 bàn về "Một số vấn đề chung về đạo đức công vụ". Ở đây, các tác giả đã tổng hợp các quan niệm khác nhau về đạo đức công vụ ở một số nước, như: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Niu Dilân, Singapore,v. Những tổng kết này là tài liệu tham khảo bổ ích khi chúng tôi đề cập đến khái niệm đạo đức công vụ. Đặc biệt chương 3 "Một số khuyến nghị cho hệ thống quản lý đạo đức công vụ của Việt Nam", có ý nghĩa tham khảo nhất định khi đề xuất các giải pháp ngăn ngừa sự biến đổi tiêu cực của đạo đức công vụ trong một bộ phận công chức nước ta hiện nay.
Bài viết:"Từ lời dạy của Bác đến chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp" của tác giả Hoàng Chí Bảo [10] đã có sự luận giải hết sức thuyết phục về quan hệ giữa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức nước ta hiện nay. Theo tác giả mỗi một nghề nghiệp, ngoài những giá trị, chuẩn mực đạo đức phổ quát mang tính xã hội ra thì cũng có đạo đức riêng của mình, đòi hỏi người cán bộ công chức vừa tuân thủ chuẩn mực đạo đức xã hội nói chung, vừa phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp mà mình đang hoạt động và lấy tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh làm hệ quy chiếu. Tác giả Trần Sỹ Phán trong bài viết: "Nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức hiện nay"[79]đã đi sâu phân tích khái niệm "đạo đức công 10 luan an vụ" và vấn đề "nâng cao đạo đức công vụ" cho đội ngũ công chức nước ta hiện nay. Theo tác giả trong bối cảnh đổi mới của đất nước, cần không ngừng nâng cao vai trò đạo đức công vụ của đội ngũ công chức đối với hoạt động hành chính nhà nước, cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung.
Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức hiện nay, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Trong luận án tiến sỹ với đề tài: "Giáo dục đạo đức công vụ cho học viên các trường chính trị khu vực miền núi phía Bắc"tác giả Hứa Thị Kiều Hoa [49] cho rằng quá trình hình thành đạo đức công vụ là quá trình tự nhận thức, ý thức đến tư duy hành động và cuối cùng được chuẩn hóa thành quy tắc, quy chế và pháp luật của nhà nước - đó là quá trình đi từ giai đoạn tự phát đến giai đoạn tự giác. Về mặt bản chất, tác giả nhấn mạnh đạo đức công vụ nước ta được quan niệm trên nền tảng triết lý Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, giá trị đạo đức cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân.
Từ đó, tác giả quan niệm đạo đức công vụ là hệ thống những quy tắc, quy định nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của cán bộ, công chức trong thi hành nhiệm vụ nhằm xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại. So với hướng nghiên cứu mà chúng tôi đặt ra, cách tiếp cận đạo đức công vụ của tác giả Hứa Thị Kiều Hoa mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cơ sở hình thành của đạo đức công vụ từ các giá trị đạo đức và văn hóa truyền thống, chưa thấy được sự tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức tác động đến sự hình thành những nét đặc điểm khác biệt của đạo đức công vụ hiện nay, đặc biệt là sự tác động của nền kinh tế thị trường. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra cho chúng tôi trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu của mình. Bàn đến các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức công vụ, nhóm tác giả Hồ Trọng Hoài trong đề tài: "Đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức Việt 11 luan an Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp" [50] đã phân tích, chỉ ra điều kiện khách quan lẫn chủ quan đã ảnh hưởng đến đạo đức công vụ của cán bộ công chức nước ta hiện nay như thế nào.
Theo đó, về mặt khách quan, các tác giả chỉ ra sự du nhập của lối sống thực dụng đã ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức và lối sống xã hội nói chung và một bộ phận công chức nói riêng. Nền kinh tế thị trường đã kích thích cái tôi thái quá và là tác nhân làm méo mó sự phát triển nhân cách. Mặt trái nền kinh tế thị trường tiềm ẩn nguy cơ hình thành những lợi ích nhóm không đồng thuận với với lợi ích chung của toàn xã hội. Điều này dẫn tới nguy cơ làm biến dạng chính sách, pháp luật, làm tha hóa nghề nghiệp, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của nhiều cán bộ công chức theo đó chi phối, tác động mạnh mẽ đến đạo đức công chức trong đạo đức công vụ.
Về mặt chủ quan, đạo đức công vụ của đội ngũ công chức bị quy định bởi thể chế quốc gia, công tác quản lý cán bộ công chức của các cơ quan nhà nước, sức mạnh của nền hành chính, mà đặc biệt là tính kỷ luật của cán bộ công chức khi thực thi công vụ. Theo nhóm tác giả, các yếu tố trên tác động đến đạo đức công vụ ở những mức độ khác nhau nhưng đều dẫn tới sự biến đổi đạo đức công vụ. Chúng tôi coi những nhận định này là tài liệu có ý nghĩa nhất định trong việc khái quát bức tranh tổng quát, đa dạng về đạo đức công vụ của đội ngũ công chức Việt Nam hiện nay. Như vậy, các công trình trên đã nghiên cứu về công vụ, đạo đức công vụ ở những khía cạnh khác nhau nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của thực tiễn đó là vấn đề đạo đức công chức trong hoạt động công vụ ở Việt Nam; góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của đạo đức công chức ở nước ta hiện nay.
Những công trình này đã gợi mở cho chúng tôi nhiều ý tưởng quan trọng, đồng thời cũng là nguồn tư liệu quý giá trong quá trình chúng tôi thực hiện đề tài của mình. Tuy vậy, do khuôn khổ và mục đích riêng, các công trình kể trên chưa đề cập đến cấu trúc của đạo đức 12 luan an công vụ, cũng như chưa hệ thống hóa được những chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức công chức trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG VÀ THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 1.1 Những nghiên cứu liên quan đến kinh tế thị trƣờng, kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn xác định đổi mới kinh tế là trọng tâm và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương lâu dài, nhất quán. Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sôi động thời gian qua đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ này. Tác giả Vũ Văn Phúc, trong cuốn: "Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"[84] đã đề cập đến tính tất yếu của xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong cuốn sách này, tác giả cho rằng thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước đã chứng minh quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu, là sự lựa chọn phù hợp, khách quan. Đặc biệt, tác giả đã tập trung làm rõ nhiều vấn đề quan trọng như: thực chất kinh tế thị trường là gì? đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; vai trò sở hữu nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường nước ta hay quan niệm, thực trạng và giải pháp cho kinh tế tư nhân trong kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.Với chúng tôi, đây là những gợi mở có ý nghĩa nhất định khi tiếp cận và nghiên cứu bản chất và tác động của kinh tế thị trường tới đạo đức công vụ của cán bộ công chức ở nước ta hiện nay.
13 luan an Trong cuốn: "Đặc trưng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam"của Vũ Đình Bách và Trần Minh Đạo [6], các tác giả đã đề cập tới nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến kinh tế thị trường. Chẳng hạn: quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường thế giới, các mô hình chủ yếu, đặc trưng và xu hướng vận động của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, bản chất và đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, các điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tiếp tục làm rõ các vấn đề của KTTT và KTTT định hướng XHCN, tác giả Vũ Đình Bách cùng nhóm cộng sự cho xuất bản cuốn: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam"[7]. Đây là kết quả nghiên cứu đề tài thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.01 "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Trong cuốn sách này, các tác giả đã đi sâu đánh giá mức độ nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta hiện nay. Từ đó đi đến phân tích vai trò của thể chế và quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, từng bước luận giải về thị trường và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc. Mặc dù những nhận định và phân tích về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN trong hai cuốn sách này mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta, nhưng với chúng tôi đây là những tài liệu tham khảo quan trọng định hướng cho việc tiếp cận bản chất kinh tế thị trường nói chung và kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng một cách đầy đủ hơn.