Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ triết học: "Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Triết học (hướng nghiên cứu Đạo đức học). Công trình tiếp cận vấn đề theo định hướng lý luận triết học xã hội và đạo đức học Mác - Lênin, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê tư liệu thứ cấp.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong cấu trúc nhân cách của người cán bộ, công chức, thành tố đạo đức giữ vai trò hạt nhân, là nền tảng quy định thái độ và hành vi thực thi công vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức cách mạng là cái gốc của người cách mạng. Kế thừa quan điểm đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc; đồng thời tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương và ý thức tự giác tu dưỡng của cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh đại đa số cán bộ, công chức kiên định mục tiêu lý tưởng và hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực tiễn ghi nhận một bộ phận làm việc thiếu tính chuyên nghiệp, kỷ luật không cao, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân thấp, thậm chí vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước đến mức phải xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021) của Đảng đã chỉ rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức suy thoái đạo đức, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ".
Về khoảng trống nghiên cứu: Các công trình khoa học trong và ngoài nước thời gian qua đã tiếp cận nhiều khía cạnh của công vụ và đạo đức công vụ. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về hiện tượng lệch chuẩn đạo đức công vụ dưới góc độ triết học - đạo đức học, đặc biệt là việc phân tích bản chất, tiêu chí và biểu hiện của sự lệch chuẩn này trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hiện tượng lệch chuẩn này.
Để hoàn thành mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 đến nay. Lý do xác định mốc thời gian này là do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đã chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phạm vi khảo sát: Luận án tập trung phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực của cán bộ, công chức trong khu vực hành chính dân sự.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề chuyên biệt, phân tích cụ thể công trình của các tác giả trong và ngoài nước:
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
-
Nhóm công trình về công vụ, đạo đức công vụ và chuẩn mực đạo đức công vụ:
- Về khái niệm công vụ: Công trình "Thuật ngữ Hành chính" của Học viện Hành chính Quốc gia [56] (kế thừa nghiên cứu của Đại học Stellenbosch, Nam Phi) tiếp cận công vụ dưới góc độ tổ chức bộ máy và hoạt động thực thi chính sách của chính phủ. Thân Minh Quế trong "Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay" [103] và Ngô Thành Can trong "Đạo đức công chức trong thực thi công vụ" [12] xác định công vụ là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý do đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện bằng ngân sách nhà nước nhằm thực thi các chức năng quản lý xã hội.
- Về đạo đức công vụ: Đỗ Thị Ngọc Lan [66] so sánh quy định đạo đức công vụ của một số quốc gia và chỉ ra 3 thành tố của bộ quy tắc ứng xử (giá trị cốt lõi, nguyên tắc và quy tắc cụ thể). Ngô Thành Can [12] xác lập các giá trị đạo đức công vụ gồm sự trung thành, đáng tin cậy, tinh thần đoàn kết, lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm. Nguyễn Chí Mỳ [91], Nguyễn Thế Kiệt [64], Trần Văn Phòng [99] nghiên cứu sự biến đổi thang giá trị đạo đức và tiêu chuẩn đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý chính trị. Về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, Trần Quốc Hải [44], Lưu Kiếm Thanh [113], Bùi Huy Tùng [114] nhấn mạnh tính pháp lý và yêu cầu thể chế hóa đạo đức công vụ; Cao Minh Công [19] nhấn mạnh cơ chế tự điều chỉnh bên trong từ lương tâm; Trần Anh Tuấn [121] gắn tiêu chuẩn công chức với khung năng lực. Đỗ Thị Ngọc Lan [65], nhóm tác giả Minh Hoàng, Thu Hường, An Nhiên, Khôi Nguyên, Tâm Thành [54] phân tích đạo đức công vụ từ kinh nghiệm của nền công vụ Cộng hòa Liên bang Đức; Phạm Nhẫn [95] khảo sát mối liên hệ giữa đạo đức công vụ và cải cách hành chính; Trung Sơn [110] phân tích thực tiễn chống tham nhũng nâng cao đạo đức công vụ tại Trung Quốc (nêu số liệu năm 2013 Trung Quốc xử lý 3.657 vụ việc tham nhũng, trong đó 1.481 vụ liên quan đến không làm tròn nhiệm vụ và lạm dụng quyền lực). Các tác giả Bùi Đình Phong [98], Trương Quỳnh Hoa [51] nghiên cứu đạo đức công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Các yếu tố tác động và giải pháp được phản ánh qua công trình của Trương Quốc Chính [13], Nguyễn Tiến Hiệp [47], Trần Sỹ Phán [96], Vũ Văn Điệp [35], các đề tài khoa học cấp Bộ của Hồ Trọng Hoài và cộng sự [55], Bùi Thị Long [69], Trần Thị Hạnh [43], luận án của Hứa Thị Kiều Hoa [52] và sách chuyên khảo của Trần Thị Thu Hường [61].
- Về chuẩn mực đạo đức công vụ: Nguyễn Tiến Trung [119] khái quát các chuẩn mực từ giá trị cần, kiệm, liêm, chính; Hoàng Chí Bảo [8] gắn chuẩn mực nghề nghiệp với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đặng Khắc Ánh [1] nêu 6 chuẩn mực đạo đức công vụ; Trương Quỳnh Hoa [51] xác định 4 chuẩn mực đạo đức công vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và 5 phẩm chất của cán bộ lãnh đạo; Thân Minh Quế [103] và Ngô Thành Can [12] xác lập hệ thống 6 chuẩn mực cơ bản của đạo đức công chức Việt Nam; Nguyễn Minh Tuấn [122] phân tích kết cấu 3 tầng bậc của chuẩn mực đạo đức công vụ (đạo đức xã hội, đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệp).
-
Nhóm công trình về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ và tác động của kinh tế thị trường:
- Về hiện tượng lệch chuẩn: Đỗ Huy trong bài "Cơ chế, chuẩn mực đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức cá nhân" [59] phân tích sự biến đổi chuẩn mực qua các thời kỳ, chỉ ra hiện tượng "khoán chui", "khoán 10", "khoán 100" trong nông nghiệp thời kỳ bao cấp là dạng lệch chuẩn trưởng thành (lệch chuẩn tích cực), phân biệt với lệch chuẩn không đúng đắn (suy thoái). Nguyễn Quốc Sửu [111] phân tích tham nhũng như một biểu hiện suy thoái đạo đức công vụ điển hình; Lý Thị Huệ và Đặng Văn Luận [57] chỉ ra 4 biểu hiện suy thoái (tham nhũng; chạy chọt; quan liêu, vô cảm; lãng phí); Nguyễn Duy Hạnh [42] nêu biểu hiện mang nặng tác phong cai trị cũ; Nguyễn Tiến Hiệp [48] khảo sát quan hệ giữa đạo đức công vụ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, Ngô Thành Can [11] phân loại lệch chuẩn hành vi thành lệch chuẩn thụ động và lệch chuẩn chủ động, chỉ ra 4 nguyên nhân và hệ quả tiêu cực của lệch chuẩn. Trần Sỹ Phán [97] định nghĩa lệch chuẩn đạo đức công vụ là sự sai lệch về ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức so với khuôn mẫu; Trần Sỹ Dương [22] và Nguyễn Chí Mỳ [92] phân tích nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa suy thoái.
- Về tác động của kinh tế thị trường: Vũ Văn Gầu [38] làm rõ biến đổi hai chiều (tích cực trong việc đề cao trách nhiệm cá nhân; tiêu cực khi nảy sinh chủ nghĩa vị kỷ cực đoan); Nguyễn Trọng Chuẩn [17] chỉ ra tàn dư của cơ chế xin - cho bao cấp đan xen với tiêu cực kinh tế thị trường; Trần Văn Bính [9] và Nguyễn Thị Thanh Huyền [60] nhấn mạnh sự tha hóa đạo đức, lối sống thực dụng và chạy theo đồng tiền; Nguyễn Tiến Hiệp [49] phân tích mối quan hệ tác động qua lại biện chứng giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đạo đức công vụ.
-
Nhóm công trình về thực trạng và giải pháp khắc phục:
- Đánh giá thực trạng tham nhũng và thiệt hại kinh tế được phản ánh qua các vụ việc cụ thể: Nguyễn Quốc Sửu [111] dẫn chứng các vụ án đất công Hải Phòng, dự án Quán Nam, Đề án 112, tượng đài Điện Biên Phủ, vụ nợ 80 ngàn tỷ đồng tại Tập đoàn Vinashin. Cao Minh Công [20] đưa ra số liệu thiệt hại do tham nhũng từ tháng 8/2010 đến tháng 7/2011 lên tới 11.400 tỷ đồng, trong đó tội tham ô chiếm 50% số vụ và 45% số bị can.
- Các nhóm giải pháp khắc phục được đề xuất đa dạng trong nghiên cứu của Lý Thị Huệ - Đặng Văn Luận [57], Nguyễn Quốc Sửu [111], Nguyễn Tiến Hiệp [47, 48, 50], Đặng Khắc Ánh [1], Bùi Đình Phong [98], Nguyễn Duy Hạnh [42], Trần Hồng Hà [40], Vũ Văn Điệp [35], Nguyễn Thị Khuyên [63], Nguyễn Minh Tuấn [122], Ngô Thành Can [12], Lê Trọng Tuyến [124], Đỗ Thị Hoàng [53].
| Nhóm nội dung nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu trong văn bản |
Hướng tiếp cận chính |
| Lý luận về công vụ và ĐĐCV |
Học viện Hành chính Quốc gia [56], Thân Minh Quế [103], Ngô Thành Can [12], Đỗ Thị Ngọc Lan [66], Minh Hoàng và cs [54] |
Phân tích bản chất quyền lực - pháp lý của công vụ, các giá trị cốt lõi và kinh nghiệm quốc tế |
| Chuẩn mực đạo đức công vụ |
Nguyễn Tiến Trung [119], Hoàng Chí Bảo [8], Đặng Khắc Ánh [1], Trương Quỳnh Hoa [51], Nguyễn Minh Tuấn [122] |
Xây dựng hệ chuẩn mực đạo đức cách mạng, chuẩn mực nghề nghiệp và đạo đức công vụ |
| Sự lệch chuẩn ĐĐCV và KTTT |
Đỗ Huy [59], Ngô Thành Can [11], Trần Sỹ Phán [97], Vũ Văn Gầu [38], Nguyễn Trọng Chuẩn [17], Trần Văn Bính [9] |
Phân loại lệch chuẩn (chủ động/thụ động, trưởng thành/suy thoái) và tác động của cơ chế thị trường |
| Thực trạng sai phạm và giải pháp |
Nguyễn Quốc Sửu [111], Cao Minh Công [20], Lý Thị Huệ - Đặng Văn Luận [57], Nguyễn Tiến Hiệp [47, 50], Trần Hồng Hà [40] |
Khảo sát thực trạng tham nhũng, lãng phí và đề xuất giải pháp thể chế, giáo dục, kiểm tra, giám sát |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận đạo đức công vụ từ góc độ khoa học quản lý hành chính, khoa học pháp lý hoặc phân tích các biểu hiện suy thoái riêng lẻ như tham nhũng, lãng phí. Chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể, có hệ thống về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ dưới lăng kính triết học - đạo đức học Mác - Lênin. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: xác định rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm, tiêu chí nhận diện sự lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực; đánh giá toàn diện thực trạng lệch chuẩn trong khu vực dân sự từ năm 2001 đến nay; và đề xuất hệ thống giải pháp triết học - xã hội mang tính đồng bộ nhằm ngăn chặn, khắc phục tình trạng này trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ khái niệm
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và công vụ; cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và chuẩn mực đạo đức công vụ. Tác giả kế thừa quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen về nguồn gốc kinh tế của đạo đức: con người rút ra các quan niệm đạo đức từ các quan hệ thực tiễn của sản xuất và trao đổi [73]. Đồng thời, luận án tiếp thu quan điểm đạo đức học của G. Bandzeladze [7] về tính tự giác, tự do của hành vi đạo đức và cấu trúc điều chỉnh của lương tâm.
Hệ thống khái niệm và khung phân tích được xác lập trong luận án gồm:
- Đạo đức công vụ: Là một dạng đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ứng xử nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, lương tâm và dư luận xã hội. Phạm vi điều chỉnh thể hiện trong ba mối quan hệ cơ bản: cán bộ, công chức với Nhà nước; cán bộ, công chức với nhân dân; cán bộ, công chức với chính mình.
- Sáu đặc điểm của đạo đức công vụ:
- Là một dạng đạo đức nghề nghiệp gắn với quyền lực công và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (thể hiện qua các chuẩn mực nghề nghiệp cụ thể như Quyết định 2659/QĐ-BTP của Bộ Tư pháp, Quyết định 11/QĐ-HHNH của Hiệp hội Ngân hàng, Thông tư 01/2021/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ, Quyết định 758/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ).
- Là một dạng đạo đức xã hội, chi phối đạo đức cá nhân và đạo đức công dân của người công chức (được kiểm soát qua các quy định như Điều 8 và Điều 16 Nghị định 112/2020/NĐ-CP).
- Nội dung bao gồm hệ thống nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức.
- Cơ chế thực hiện dựa vào niềm tin cá nhân, lương tâm công vụ và dư luận xã hội (luận án phân định: pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa).
- Mang tính khái quát kết hợp tính cụ thể theo vị trí, ngạch bậc công tác.
- Đề cao tính chuẩn mực phục vụ lợi ích công và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
- Chuẩn mực đạo đức công vụ: Là những giá trị đạo đức xác định ranh giới giữa việc nên làm và không nên làm, được xã hội thừa nhận và trở thành những khuôn mẫu để xem xét, đánh giá và điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Chuẩn mực đạo đức công vụ mang tính lịch sử, thể hiện ở cả khía cạnh tự phát theo bổn phận và tự giác qua đào tạo; tồn tại dưới dạng một hệ chuẩn mực phổ biến kết hợp đặc thù; vừa là công cụ đánh giá của xã hội vừa là căn cứ tự điều chỉnh của cá nhân cán bộ, công chức.
- Bốn cách phân loại chuẩn mực đạo đức: Luận án phân định chuẩn mực đạo đức căn cứ vào: (1) Tính chất yêu cầu (chuẩn mực ngăn cấm và chuẩn mực khuyến khích); (2) Phạm vi điều chỉnh (chuẩn mực nguyên tắc và chuẩn mực hành vi); (3) Mức độ phổ quát (chuẩn mực phổ quát và chuẩn mực cụ thể); (4) Cơ chế tác động (chuẩn mực tự nguyện thực hiện và chuẩn mực ràng buộc).
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng nhất quán hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đóng vai trò hạt nhân phương pháp luận để phân tích bản chất kinh tế - xã hội của đạo đức công vụ và sự tha hóa, lệch chuẩn trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Phương pháp lịch sử và lôgíc: Được sử dụng để luận giải quá trình hình thành các quan niệm, chuẩn mực đạo đức công vụ; theo dõi diễn biến sự lệch chuẩn đạo đức công vụ gắn với tiến trình đổi mới kinh tế từ năm 2001 đến nay.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn, phân tích thực trạng và nguyên nhân, từ đó tổng hợp thành các kết luận chương và hệ thống giải pháp.
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng trong Chương 1 và Chương 3 nhằm thu thập, tổng hợp, lượng hóa các dữ liệu nghiên cứu lý luận và các số liệu thực tế về các vụ việc vi phạm, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.
- Phương pháp dự báo khoa học: Được sử dụng trong Chương 4 nhằm dự báo xu hướng vận động của đạo đức công vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở xây dựng các giải pháp ngăn chặn và khắc phục.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; các tác phẩm và bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng (từ Đại hội VI, Đại hội IX đến Đại hội XIII) và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 71), Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 185), Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP (Điều 50) và các quy tắc ứng xử của các bộ, ngành.
- Dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí chuyên ngành và số liệu tổng kết thực tiễn xử lý sai phạm công vụ đã được công bố chính thức.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và 4 chương nội dung chính với 12 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học đã công bố theo bốn mảng nội dung chính: (1) Các nghiên cứu về công vụ, đạo đức công vụ và chuẩn mực đạo đức công vụ; (2) Các nghiên cứu về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ và mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với sự lệch chuẩn; (3) Các công trình khảo sát thực trạng sai phạm đạo đức công vụ và hậu quả kinh tế - xã hội; (4) Các công trình đề xuất giải pháp nâng cao đạo đức công vụ và phòng chống tham nhũng, suy thoái.
Từ việc phân tích tổng quan, chương này khẳng định: Các nghiên cứu trước đây đã tạo dựng cơ sở dữ liệu và tiền đề lý luận quan trọng nhưng phần lớn tiếp cận dưới góc độ quản lý hành chính, khoa học pháp lý hoặc chỉ xem xét các hiện tượng suy thoái riêng lẻ. Luận án xác định khoảng trống cần nghiên cứu là làm rõ bản chất triết học - đạo đức học của sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong mối quan hệ với các quy luật của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về chuẩn mực đạo đức công vụ và sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 tập trung luận giải các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết của đề tài. Tác giả phân tích đạo đức công vụ dưới tư cách là một dạng đạo đức nghề nghiệp và đạo đức xã hội đặc thù; chỉ ra 6 đặc điểm cơ bản và 4 đặc trưng của chuẩn mực đạo đức công vụ. Tác giả làm rõ vai trò của chuẩn mực đạo đức công vụ thông qua 5 khía cạnh: xây dựng nền công vụ hiệu quả; tạo động lực rèn luyện nhân sinh quan cách mạng; xác định ranh giới nên làm và không nên làm; làm căn cứ đánh giá thống nhất từ ý thức đến hành vi; và góp phần kiến tạo văn hóa công sở.
Bên cạnh đó, chương 2 làm sáng tỏ bản chất của nền kinh tế thị trường với 6 đặc điểm cơ bản (tính tự chủ của các chủ thể sở hữu đa dạng; sự thừa nhận hệ thống thị trường hàng hóa - dịch vụ; hình thành giá cả theo giá trị và cung cầu; cạnh tranh tự do; động lực lợi nhuận; vai trò điều tiết của nhà nước) và đặc thù của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng khái niệm sự lệch chuẩn đạo đức công vụ (theo chiều hướng tiêu cực), xác định các tiêu chí đánh giá và các biểu hiện sai lệch về ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ trước sự tác động của các quy luật thị trường.
Chương 3: Thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng
Chương 3 áp dụng phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp để làm rõ bức tranh thực tế về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong khu vực hành chính dân sự từ năm 2001 đến nay. Luận án chỉ ra các biểu hiện lệch chuẩn cụ thể: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; chủ nghĩa thực dụng, coi trọng lợi ích vật chất; tệ quan liêu, hách dịch, sách nhiễu, xa rời nhân dân; tình trạng lợi dụng quyền lực công để tham nhũng, tham ô, trục lợi cá nhân; thói chạy chức, chạy quyền; làm việc thiếu trách nhiệm, lãng phí tài sản công và vi phạm kỷ luật bảo vệ bí mật nhà nước.
Chương này dẫn chứng các vụ việc sai phạm nghiêm trọng được dư luận và các công trình nghiên cứu ghi nhận (như sai phạm đất công tại Hải Phòng, sai phạm tại Đề án 112, vụ rút ruột công trình tượng đài Điện Biên Phủ, sai phạm tài chính để lại khoản nợ 80 ngàn tỷ đồng tại Vinashin; số liệu thiệt hại do tham nhũng từ 8/2010 đến 7/2011 lên tới 11.400 tỷ đồng do Cao Minh Công tổng hợp). Đồng thời, tác giả phân tích sâu sắc hai nhóm nguyên nhân:
- Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường và quyền lực đồng tiền; tàn dư của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và cơ chế "xin - cho"; hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý kinh tế và thể chế công vụ còn kẽ hở, thiếu đồng bộ; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát xã hội chưa đủ mạnh.
- Nguyên nhân chủ quan: Cán bộ, công chức thiếu ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức; bản lĩnh chính trị suy giảm; sự phai nhạt lý tưởng cách mạng; công tác tuyển dụng, đào tạo, quản lý và đánh giá cán bộ ở một số cơ quan còn hình thức, lỏng lẻo.
Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Dựa trên kết quả phân tích nguyên nhân và phương pháp dự báo khoa học, Chương 4 xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ:
- Đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức cách mạng: Tăng cường giáo dục việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện lương tâm nghề nghiệp của cán bộ, công chức; thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
- Hoàn thiện thể chế và hệ thống chuẩn mực đạo đức công vụ: Thể chế hóa các chuẩn mực đạo đức vào quy định pháp luật và quy chế hoạt động của từng cơ quan, đơn vị; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chuyên biệt gắn với khung năng lực và vị trí việc làm.
- Đổi mới công tác quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ, công chức: Cải cách quy trình tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm theo hướng công khai, minh bạch, lấy phẩm chất đạo đức và hiệu quả công vụ làm thước đo; thực hiện cải cách chính sách tiền lương và kiểm soát thu nhập của cán bộ, công chức nhằm giảm thiểu động cơ vụ lợi.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm: Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức Đảng; đẩy mạnh thanh tra công vụ; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan truyền thông; kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đạo đức công vụ, không có vùng cấm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Luận án đã làm sáng tỏ có hệ thống các vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức (theo chiều hướng tiêu cực) trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
- Xây dựng định nghĩa, chỉ ra 6 đặc điểm của đạo đức công vụ và 4 đặc điểm của chuẩn mực đạo đức công vụ; làm rõ cơ chế điều chỉnh hành vi của đạo đức dựa trên lương tâm, niềm tin cá nhân và dư luận xã hội trong mối tương quan với cơ chế cưỡng chế của pháp luật công vụ ("pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa").
- Xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá và các biểu hiện cụ thể của sự lệch chuẩn đạo đức công vụ dưới tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án chỉ ra và hệ thống hóa thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ theo xu hướng tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, công chức khu vực dân sự trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay.
- Phân tích rõ ràng, toàn diện các nguyên nhân kinh tế, xã hội, thể chế và nguyên nhân chủ quan từ bản thân đội ngũ cán bộ, công chức dẫn đến tình trạng suy thoái đạo đức và vi phạm công vụ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong điều kiện kinh tế thị trường, kết hợp hài hòa giữa cơ chế điều chỉnh tự giác bên trong (giáo dục đạo đức, nêu gương) và cơ chế kiểm soát bắt buộc từ bên ngoài (hoàn thiện thể chế pháp luật, kiểm soát quyền lực, cải cách tiền lương, thanh tra, kiểm tra và kỷ luật).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về phạm vi khảo sát: Do giới hạn nguồn lực và quy mô của đề tài, luận án chỉ tập trung phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của cán bộ, công chức trong khu vực hành chính dân sự, chưa đi sâu khảo sát đội ngũ cán bộ, công chức trong các lực lượng vũ trang (quân đội, công an).
- Về chiều hướng tiếp cận: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu sự lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực (suy thoái, vi phạm chuẩn mực), chưa dành dung lượng phân tích sâu các dạng lệch chuẩn theo chiều hướng tích cực (lệch chuẩn trưởng thành, sáng tạo vượt rào vì lợi ích chung) trong bối cảnh đổi mới thể chế.
- Về phạm vi thời gian: Luận án giới hạn khảo sát từ năm 2001 (thời điểm Đại hội IX xác định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) đến nay, do đó chưa so sánh định lượng sâu rộng với giai đoạn trước đổi mới.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các cơ quan thuộc lực lượng vũ trang và các đơn vị sự nghiệp công lập để có bức tranh toàn diện hơn về nền công vụ Việt Nam.
- Đi sâu nghiên cứu thực nghiệm, xây dựng bộ chỉ số lượng hóa mức độ tuân thủ và lệch chuẩn chuẩn mực đạo đức công vụ tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở.
- Nghiên cứu cơ chế bảo vệ và khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung trong mối quan hệ với chuẩn mực đạo đức công vụ mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề Triết học, Đạo đức học, Đạo đức công vụ, Khoa học quản lý công và Xây dựng Đảng tại các trường đại học, học viện và các trường chính trị cấp tỉnh.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học cho Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức Trung ương, cơ quan thanh tra và các cơ quan nhà nước các cấp trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế công vụ, ban hành quy tắc ứng xử nghề nghiệp, xác định tiêu chí đánh giá cán bộ và thiết kế các cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, suy thoái.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến nay?
Trả lời: Căn cứ vào Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là căn cứ thực tiễn và lý luận then chốt để tác giả phân tích tác động của các quy luật kinh tế thị trường đến sự biến đổi và lệch chuẩn đạo đức công vụ.
2. Đạo đức công vụ và chuẩn mực đạo đức công vụ được định nghĩa như thế nào trong luận án?
Trả lời: Luận án định nghĩa: Đạo đức công vụ là một dạng đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ứng xử nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, lương tâm và dư luận xã hội. Chuẩn mực đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức để xác định ranh giới giữa việc nên làm và không nên làm, được xã hội thừa nhận và trở thành những khuôn mẫu để xem xét, đánh giá và điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.
3. Luận án giải quyết mối quan hệ giữa đạo đức công vụ và pháp luật công vụ theo nguyên lý nào?
Trả lời: Luận án dựa trên luận điểm "pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa". Việc thực hiện các điều bắt buộc trong quy phạm pháp luật là nền tảng tối thiểu của đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ thuộc về ý thức, lương tâm, trách nhiệm nội tâm, điều chỉnh những việc nên làm và không nên làm vì lợi ích chung mà không xâm phạm biên giới cưỡng chế của pháp luật.
4. Luận án phân chia các loại chuẩn mực đạo đức cơ bản dựa trên các căn cứ nào?
Trả lời: Luận án phân loại theo 4 căn cứ: (1) Căn cứ tính chất yêu cầu: chuẩn mực ngăn cấm và chuẩn mực khuyến khích; (2) Căn cứ phạm vi điều chỉnh: chuẩn mực nguyên tắc và chuẩn mực hành vi; (3) Căn cứ mức độ phổ quát: chuẩn mực phổ quát và chuẩn mực cụ thể; (4) Căn cứ cơ chế tác động: chuẩn mực tự nguyện thực hiện và chuẩn mực ràng buộc từ dư luận xã hội.
5. Luận án ghi nhận những biểu hiện thực tế nào của sự suy thoái đạo đức công vụ?
Trả lời: Các biểu hiện được nêu gồm: tham nhũng, tham nhũng "vặt", chạy chức, chạy quyền, chạy danh, quan liêu, vô cảm, hách dịch, sách nhiễu công dân, lãng phí tài sản công, vi phạm bí mật Đảng và Nhà nước, cùng việc ban hành quy định cục bộ vì lợi ích nhóm hoặc tùy tiện duy trì cơ chế "ưu ái" doanh nghiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả đã giải quyết một cách hệ thống và nhất quán các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam từ năm 2001 đến nay. Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh, công trình làm rõ bản chất, đặc điểm, tiêu chí nhận diện hiện tượng lệch chuẩn tiêu cực, đồng thời phân tích sâu sắc các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng. Hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất trong luận án vừa đáp ứng yêu cầu tự giác tu dưỡng nội tâm, vừa xác lập cơ chế kiểm soát thể chế chặt chẽ, đóng góp tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, đào tạo và hoạch định chính sách cán bộ hiện nay.