ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng ở Việt Nam ngày càng được quan tâm, đầu tư và phát triển. Những tiến bộ về di truyền, giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y mà chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển thể hiện ở việc sự tăng lên nhanh chóng về số lượng và chất lượng của đàn gia súc, gia cầm. Riêng chăn nuôi gia cầm đang chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta, nó cung cấp một lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của con người.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng gà thả vườn ở nước ta những năm gần đây cao hơn gấp nhiều lần so với sản lượng gà công nghiệp. Và tập quán của người dân Việt Nam thích ăn những loại gà có thịt dai, giòn hơn là những loại gà có thịt bở như gà công nghiệp. Bởi vậy chăn nuôi gà thả vườn nước ta vẫn có tiềm năng rất phát triển. Tuy nhiên việc phát triển chăn nuôi ngày càng lớn nên môi trường càng ô nhiễm, nhiều loại hình dịch bệnh mới xuất hiện.
Bệnh hô hấp phức hợp trên gà là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotraleale gây ra, thường gặp ở gà và gà tây mọi lứa tuổi. Bệnh có những triệu chứng và bệnh tích đặc trưng như: ho, khó thở, đớp không khí, màng niêm mặc mắt viêm thủy thũng, phế quản gốc có kén mủ, khí quản bị xung huyết, có nhiều dịch nhày, phổi bị viêm tơ huyết. Trên thế giới, người ta đã phân lập được vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale (ORT) tại phía bắc nước Đức từ đàn gà tây 5 tuần tuổi. Đến năm 1993, người ta đã mô tả một số đặc điểm của bệnh ORT gây nên đó là bệnh khó phòng và đều trị gây giảm khả năng sản xuất, thiệt hại lớn về kinh tế.
Ở Việt Nam đây là một bệnh khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu về ORT còn nhiều hạn chế. Các công trình nghiên cứu mới được thực hiện vào năm 2014. Bệnh gây thiệt về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của bộ phận không nhỏ người dân nước ta. Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống.
Đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ người chăn nuôi đến người làm công tác thú y… 1 mở rộng các chương trình phòng chống dịch và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo dịch bệnh. Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh ORT do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương và thử nghiệm điều trị”. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI Xác định tình hình mắc bệnh ORT do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Từ đó làm cơ sở cho việc phòng và thử nghiệm điều trị bệnh.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa trong học tập Kết quả đề tài là nắm chắc được các thông tin khoa học về đặc điểm của bệnh ORT ở gà như: dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và đưa ra phác đồ điều trị bệnh ORT đạt hiệu quả cao nhất. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để người chăn nuôi hiểu rõ về căn bệnh, khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh ORT cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh ORT gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
GIỚI THIỆU VỀ BỆNH ORT Bệnh ORT trên gà là một bệnh hô hấp cấp tính trên gà do vi khuẩn có tên là Ornithobacterium rhinotracheale gây ra. Vi khuẩn tác động trực tiếp lên đường hô hấp và phổi với các biểu hiện điển hình như gà khó thở, khẹc, ngáp, ho, chảy nước mắt mũi, phổi viêm có mủ và bã đậu hình ống. Lịch sử căn bệnh Vào năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch nước mũi, dịch phủ ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần tuổi tại phía Bắc nước Đức (Van Empel & cs. Năm 1983, vi khuẩn được nuôi cấy từ dịch khí quản của quạ non.
Năm 1986, ORT được phân lập từ gà tây tại Isarel ở nhiều lứa tuổi với bệnh tích viêm xuất huyết cấp tính phổi và túi khí. Năm 1987, ORT được phân lập từ giống vịt Bắc Kinh 10 tuần tuổi ở Hungary cùng với bệnh tụ huyết trùng như một bệnh truyền nhiễm. Giữa những năm 1986 và năm 1988 là thời điểm ORT được nhận định như một chủng vi khuẩn pasteurella, được phân lập từ đàn gà tây giống ở Anh, kèm với triệu chứng như yếu ớt, giảm đẻ, ho, tỷ lệ chết thấp, túi khí bị viêm tơ huyết và viêm phổi. Ở Califonia (Charlton & cs., 1993) đã xác định được các đặc điểm của 14 chủng vi khuẩn thu thập và phân lập được từ năm 1990 đến 1991 trên các đàn gà tây và gà có triệu chứng của bệnh hô hấp.
Vào năm 1991, người ta thấy rằng có các biểu hiện của bệnh hô hấp trên các đàn gà thịt thương phẩm tại Nam Phi, ngay sau đó cũng đã phân lập được ORT (Hafez, 1998). Năm 1993, lần đầu tiên ORT được mô tả chính thức (Charlton & cs. Một số gà tây đã được quan sát ở Hà Lan và Đức, với những triệu chứng lâm sàng như vảy mỏ, khó thở và sung huyết xoang hốc mắt, cùng với sự tăng trưởng chậm của gà thịt (Hinz & cs. Tại Đức, người ta thấy rằng tỷ lệ nhiễm chủ yếu ở gà tây 14 tuần tuổi trở lên (Hafez & cs.
Sau đó, tìm thấy vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm đường hô hấp của gia cầm ở Isarel (Bock & cs., 1995a), Bỉ (Wyffels & Hommez, 1990) và Mỹ (Charlton & cs. 3 Ban đầu, các loại vi khuẩn mới chỉ được gọi tên như một vi khuẩn Gram âm, hình que (PGNR; Charlton & cs. (1993), Pasteurella –like (Hafez & cs., 1993) hoặc Kingella –like (Van Empel & cs. Năm 1994, ORT được phân lập từ đàn chim hoang dã và được đặt tên dùng cho đến nay (Vandamme & cs.
Tại Đức, điều tra về việc nuôi cấy O. Rhinotracheale đã thấy rằng ORT phân lập được từ đường hô hấp của gà tây ở năm 1981 và ở quạ năm 1983 (Vandamme & cs. Nó cũng được phân lập ở Bỉ (Wyffels & Hommez, 1990), Mỹ (Charlton & cs., 1993) và Isarel (Bock & cs. Rhinotracheale đã được phân lập từ gà gô, gà lôi, chim bồ câu, vịt, chim cút, chim đa đa, đà điểu, ngỗng, gà sao, gà và gà tây (Charlton & cs.
Trong các khu vực khác nhau ở Mỹ, O. Rhinotracheale gây ra viêm phổi cấp tính với tỷ lệ tử vong 1-15% và đôi khi thậm chí lên đến 50% ở gà tây vào năm 1995 và 1996. Sự hiện diện của O. Rhinotracheale trên các loài chim ở Nam Mỹ và Châu Á có thể cũng được nghiên cứu (Vandamme & cs., 1994) quan sát chưa công bố.
Hiện nay, tình hình dịch bệnh ORT cũng như các nghiên cứu về chúng vẫn đang được tiến hành tại nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua tại nhiều tỉnh thành đã xuất hiện các đàn gia cầm chết với triệu chứng, bệnh tích giống như các mô tả của bệnh ORT trên thế giới, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho người chăn nuôi, làm đau đầu các cán bộ kỹ thuật từng trải và giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên, Hiện nay chưa có công bố nào về phân lập và định danh ORT ở Việt Nam. Chỉ có một số bài báo tổng hợp từ tài liệu nước ngoài đăng trên tạp chí khoa học thú y trình bày về kết qua phân lập, định danh ORT từ gà công nghiệp theo phương pháp nuối cấy truyền thống và kỹ thuật PCR khuếch đại gen rnn mã hóa 16S rRNA của ORT do Võ Thị Trà An và cộng sự (Võ Thị Trà An & cs.
Và cho đến nay chưa có thêm nghiên cứu nào về sự lưu hành của vi khuẩn ORT trên gà tại Việt Nam. Đến tháng 6 năm 2014, (Nguyễn Thị Lan & cs., 2014) đã có những tổng hợp cụ thể về tình hình nghiên cứu trên thế giới và các đặc điểm quan trọng của ORT trên tạp chí khoa học thú y tập XXI số 5- 2014. Phân loại ORT nằm trong họ rRNA-V cùng với Cythophaga – Flavobacterium – 4 Bacteroidesphylum và có quan hệ mật thiết với hai loại vi khuẩn khác gây bệnh trên gia cầm là Riemerella anatipestifer và Coennia anatine. Trước đây, vi khuẩn này được biết đến với rất nhiều tên như: Pleomorphic Gram Negative Rod (PGNR), vi khuẩn dạng Pasteurella, trực khuẩn Gram âm đa hình dạng cho đến khi có tên gọi Ornithobacterium Rhinotracheale được sử dụng cho đến ngày hôm nay (Charlton & cs., 1993; Nguyễn Thị Lan & cs.
Hình thái cấu trúc và tính chất bắt màu của vi khuẩn. ORT là một vi khuẩn Gram âm, đa hình thái, không có khả năng di động, dạng trực khuẩn, không hình thành nha bào (Back & cs. Trên môi trường thạch, chúng thường có dạng ngắn, trực khuẩn dạng dùi trống, với kích thước đường kính 0,2 – 0. Đôi khi thấy vi khuẩn có dạng hình que dài hay tạo thành chuỗi dài.
Trong môi trường dạng lỏng, chúng có thể dài tới 15 m (Hinz & Hafez, 1997; Nguyễn Thị Lan & cs. Hình thái vi khuẩn ORT dưới kính hiển vi 2. Đặc tính nuôi cấy ORT sinh trưởng trong điều kiện hiếu khí, hiếu khí tùy tiện và yếm khí tùy tiện. Điều kiện sinh trưởng tối ưu là là ở nhiệt độ 37ºC, CO 2 5%, thời gian nuôi cấy 24 - 72 giờ; tuy nhiên, chúng vẫn sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 30ºC - 42ºC.
Vi khuẩn này sinh trưởng mạnh trên môi trường thạch máu có 5 - 10% máu cừu (có bổ sung 10µg/ml Gentamicine), nhưng cũng sinh trưởng được trên môi 5 trường thạch tryptose soy và môi trường chocolate agar. Vi khuẩn không sinh trưởng trên các môi trường MacConkey Agar, Endo Agar, Gassner Agar, Drigalskil Agar hay Simon’s Citrate. Sự phát triển của vi khuẩn trong các môi trường dạng lỏng cần phải được lọc kỹ, như môi trường BHB (Brain Heart Infusion Broth), PB (Pasteurella Broth), hay Todd Hewitt Broth. ORT có khuẩn lạc rất nhỏ, không gây dung huyết ra xung quanh, màu xám tới trắng xám, đôi khi hơi đỏ thẫm, mặt lồi với bờ rõ ràng, sắc nét.