chương 1: trình bày những vấn đề lý luận chung về tác giả, quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản, khái quát hoạt động xuất bản cũng như vấn đề về bảo vệ quyền tác giả bằng các biện pháp dân sự theo pháp luật Việt Nam, tìm hiểu những bất cập trong quy định pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện các quy định pháp luật đó. Nội dung chương 2: trình bày các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản, tìm hiểu thực trạng hành vi xâm phạm quyền tác giả trong thực tiễn, biện pháp dân sự nào được áp dụng để bảo vệ quyền tác giả khi có hành vi xâm phạm và kiến nghị hoàn thiện. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG LĨNH VỰC XUẤT BẢN VÀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG LĨNH VỰC XUẤT BẢN Tại Điều 10 Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 đã thừa nhận “quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản”.
Đến Hiến pháp năm 1959, Điều 34 nhà nước công nhận “công dân có quyền tự do, nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác”. Điều 72 Hiến pháp năm 1980 “công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kĩ thuật sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác. Quyền lợi của tác giả và của người sáng chế, phát minh được đảm bảo”. Hiến pháp 1992, Điều 60 ghi nhận “công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác.
Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”. Điều 40 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó” và “nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu… bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”2. Pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), trong đó có bảo hộ quyền tác giả (QTG) đã có những sự phát triển đáng ghi nhận. Năm 1986, Nghị định số 142/HĐBT được ban hành là văn bản về QTG đầu tiên ở Việt Nam quy định một số quyền cơ bản, ban đầu về quyền tinh thần và quyền tài sản của tác giả.
Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả được ban hành năm 1994 quy định mức độ bảo hộ cao hơn đối với QTG. Bộ luật dân sự (BLDS) đầu tiên của nước ta đã dành một phần riêng để quy định về quyền SHTT. Năm 2005, Luật SHTT được ban hành trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của BLDS năm 1995. Cùng với đó là những lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013 (sau đây gọi chung là Luật SHTT) với mục đích hoàn thiện hơn những 2 Xem quy định tại khoản 2 Điều 62 Hiến pháp năm 2013.
8 quy định đã có trong Luật SHTT để phù hợp với sự phát triển của xã hội. Từ cả quá trình trên cho thấy, Nhà nước luôn cố gắng đảm bảo quyền tự do sáng tạo và phổ biến tác phẩm cho tổ chức, cá nhân trên cơ sở pháp luật và bảo hộ QTG. Theo pháp luật Việt Nam, “quyền SHTT đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học là một phần nội dung quan trọng hình thành nên pháp luật về SHTT, bên cạnh quyền sở hữu công nghiệp và quyền về giống cây trồng”3. Quyền tác giả và quyền liên quan là hai nội dung cơ bản của quyền SHTT đối với tác phẩm.
QTG xuất hiện ở các lĩnh vực như văn học, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh… qua các tác phẩm được sáng tác. Mặc dù mỗi thể loại có thể có một số đặc trưng khác nhau nhưng tựu hình trung đều được pháp luật bảo hộ QTG. Và cũng như QTG nói chung, QTG trong lĩnh vực xuất bản cũng áp dụng các quy định của Luật SHTT về quyền, nghĩa vụ của chủ thể; riêng đối tượng QTG trong lĩnh vực xuất bản là các tác phẩm được xuất bản (xuất bản in hoặc xuất bản điện tử). Một số khái niệm cơ bản về quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản 1.
Tác giả, đồng tác giả “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học”4. Tác phẩm là sản phẩm được tạo ra từ sự lao động trí tuệ của tác giả nên tác phẩm mang cái riêng của tác giả mà không hòa lẫn vào ai khác. Lao động sáng tạo là một loại lao động có tính chất đặc thù, bắt nguồn từ tư duy, sản sinh ra ý tưởng và được thể hiện trong tác phẩm. Như Nguyễn Ái Quốc là tác giả của tác phẩm “Đường kách mệnh”, nhà thơ Tố Hữu, Cù Huy Cận là tác giả của các bài thơ do các công sáng tạo ra5.
Đối với những người dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác hay phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, tuyển chọn tác phẩm cũng có QTG đối với các tác phẩm phái sinh đó. Ví như nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi và tác 3 Nguyễn Thị Hồng Nhung, Quyền tác giả trong không gian ảo, NXB Đại học Quốc gia TP HCM, 2015, tr1. 4 Xem quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP. 5 Vũ Mạnh Chu, Vũ Thùy Dương, Giáo trình Quyền tác giả, quyền liên quan trong hoạt động xuất bản, NXB Thông tin và Truyền thông, 2019, tr43.
9 phẩm “Kho tàng cổ tích Việt Nam” được hiểu là người sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu tác phẩm này6. Luật SHTT bảo hộ các tác phẩm sáng tạo của tác giả. Mặc dù Luật SHTT không có quy định cụ thể về tác giả, nhưng xét quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật SHTT thì “tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình”. Và định nghĩa tác giả tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP thì “tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm” chứng tỏ tác giả phải là người trực tiếp sáng tác tác phẩm.
Việc thiếu quy định có thể gây khó khăn khi áp dụng pháp luật, do đó, cần bổ sung định nghĩa về tác giả trong Luật SHTT để làm căn cứ trong việc xác định. Đồng tác giả: Luật SHTT không có quy định cụ thể về đồng tác giả, nhưng ở khoản 2 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn “đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”. Thể hiện rõ thấy nhất là ở việc biên soạn sách giáo khoa (SGK) theo chương trình giáo dục phổ thông mới, hầu hết các môn đều do nhiều tác giả cùng biên soạn, chẳng hạn ở SGK Tiếng Việt 1 tập một (Cánh Diều) thì Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Thị Ly Kha và Lê Hữu Tỉnh là các đồng tác giả. Như vậy, đồng tác giả là trường hợp ít nhất 2 người cùng tham gia đóng góp công sức tạo nên tác phẩm.
Để chứng minh mình là đồng tác giả, cần phải chứng minh sự lao động sáng tạo của mình trong tác phẩm đó, pháp luật có quy định về mặt tỉ lệ hay mức độ đóng góp là ở một phần hoặc toàn bộ tác phẩm. Tại khoản 2 Điều 38 Luật SHTT quy định nếu trong tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì các đồng tác giả có quyền đối với phần riêng biệt đó. Điều đó có nghĩa là một đồng tác giả có quyền sử dụng riêng (đối với quyền tài sản và nhân thân độc lập) phần của họ thuộc tổng thể đồng tác giả đó, nếu phần này có thể tách ra sử dụng riêng được. Tuy nhiên, nếu “một phần, một chương luôn có thể tách ra sử dụng riêng được thì không thể gọi là đồng tác giả”7.
6 Vũ Mạnh Chu, Vũ Thùy Dương, Giáo trình Quyền tác giả, quyền liên quan trong hoạt động xuất bản, NXB Thông tin và Truyền thông, 2019, tr44. 7 Nguyễn Vân Nam, Quyền tác giả: Đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, 2017, tr394, 400. 10 Để hoàn thiện vấn đề này, nên tham khảo quy định về tác phẩm đồng tác giả theo hướng không tách riêng phần đóng góp của từng người trong Luật QTG của Mỹ như sau: “Tác phẩm đồng tác giả là tác phẩm được sáng tạo bởi hai hoặc nhiều tác giả với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành các phần không thể tách rời và phụ thuộc lẫn nhau trong một tổng thể hoàn chỉnh”8, trong đó nhất thiết các đồng tác giả phải chủ ý cùng sáng tạo nên một tác phẩm chung. Hay Luật QTG của Đức: “Khi nhiều người cùng sáng tạo ra một tác phẩm chung, mà trong đó các phần đóng góp của họ không thể sử dụng (khai thác) riêng được, thì họ là những đồng tác giả của tác phẩm đó”9.
Quyền tác giả Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ của mình được pháp luật bảo hộ. QTG là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu QTG, xác định nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng tác phẩm. Ở Việt Nam, “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu”10. QTG bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản; trong đó, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao.
Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn và tồn tại vĩnh viễn cùng với tác phẩm (trừ quyền công bố tác phẩm). Bất kì lúc nào tác giả sáng tác tác phẩm qua một hình thức vật chất, QTG mặc nhiên được phát sinh. Quyền tác giả là độc quyền được pháp luật trao cho tác giả (đồng tác giả) hoặc chủ sở hữu QTG hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu QTG chuyển giao QTG nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến lợi ích của họ. Nhóm quyền nhân thân thuộc quyền tác giả Quyền nhân nhân là quyền cơ bản của công dân, trong đó tác giả.
Quyền nhân thân của tác giả được quy định tại Điều 19 Luật SHTT, bao gồm: 8 Trần Văn Nam, Quyền tác giả ở Việt Nam: Pháp luật và thực thi, NXB Tư pháp, 2014, tr45. 9 Xem thêm Nguyễn Vân Nam, Quyền tác giả: Đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, 2017, tr394.