CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN 1. Tổng quan về nguồn lợi thủy sản 1. Khái niệm nguồn lợi thủy sản Thủy sản là một thuật ngữ nói chung chỉ những nguồn lợi, sản vật từ môi trường nước mang lại lợi ích cho con người, được con người khai thác, nuôi trồng, thu hoạch và sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Khái niệm “nguồn lợi thủy sản” được ghi nhận lần đầu tiên tại Pháp lệnh về Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành.
Theo Pháp lệnh này, nguồn lợi thuỷ sản bao gồm mọi sinh vật có giá trị kinh tế, khoa học, sống ở các vùng nước nội địa, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam1. Khái niệm này lần nữa được định nghĩa tại khoản 1 Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003 nhưng được thay đổi về cách diễn đạt, thay vì liệt kê các vùng nước nơi các loài sinh vật được xem là nguồn lợi thủy sản sinh sống, thì Luật Thủy sản năm 2003 tập trung liệt kê vai trò của chúng đối với cộng đồng và mục đích kéo theo sau nó, theo đó: “Nguồn lợi thuỷ sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản”2. Bắt kịp với tình hình kinh tế mới, Luật Thủy sản năm 2017 đã định nghĩa lại khái niệm nguồn lợi thủy sản một cách bao quát hơn về giá trị cũng như các lĩnh vực mà nguồn lợi thủy sản có ảnh hưởng đến. Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thuỷ sản năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 định nghĩa về nguồn lợi thuỷ sản như sau: “Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên có giá trị kinh tế, khoa học, du lịch, giải trí”3.
Theo đó, khái niệm nguồn lợi thủy sản trong Luật Thủy sản 2017 đã được diễn đạt lại một cách dễ hiểu, khoa học và khái quát hơn các văn bản trước đó. Ngoài ra, khái niệm này đã mở rộng ra cả lĩnh vực du lịch và giải 1 Điều 1 Pháp lệnh về Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989. 2 Khoản 1 Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003. 3 Khoản 2 Điều 3 Luật Thuỷ sản năm 2017.
9 trí mà các văn bản trước kia không có. Việc mở rộng ra các lĩnh vực đang phát triển trong nền kinh tế mới và định nghĩa khái niệm khái quát hơn đã góp phần giúp cho việc bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản được tăng cường và đảm bảo không bỏ sót bất kỳ loài thủy sản nào. Trên cơ sở những quy định pháp luật đã đề cập trên, chúng ta có thể hiểu nguồn lợi thủy sản là một nguồn tài nguyên sinh vật, bao gồm tất cả các sinh vật sống trong những vùng nước tự nhiên (sông, suối, biển…), chúng có giá trị về kinh tế, khoa học, du lịch và giải trí. Thông thường, nguồn lợi thủy sản sẽ gồm các loài cá, các loài nhuyễn thể, giáp xác, bò sát, xoang tràng, da gai các loài động vật có vú, san hô, lưỡng cư và thực vật thủy sinh được khai thác để chế biến thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thức ăn chăn nuôi, làm phân bón…4 1.
Đặc điểm nguồn lợi thủy sản Dựa vào khái niệm như đã đề cập, nguồn lợi thuỷ sản có một số các đặc điểm cơ bản sau: Một là, nguồn lợi thủy sản là nguồn tài nguyên có thể tái tạo. Tài nguyên có thể tái tạo là loại tài nguyên sau khi khai thác có thể được phục hồi, tiếp tục sinh sôi, nảy nở dưới sự tác động tích cực của con người. Nguồn lợi thủy sản là những loài sinh vật sống trong vùng nước tự nhiên. Với bản năng sinh sản tự nhiên của mình, chúng có thể tự tái tạo số lượng cá thể trong mỗi loài bằng cách sinh sản tự nhiên trong một khoản thời gian nhất định và môi trường sống ổn định.
Tuy nhiên, tốc độ tái tạo của sinh sản tự nhiên không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu khai thác của con người. Do đó, con người có thể can thiệp vào quá trình tái tạo của chúng bằng cách nhân giống nhân tạo và thả về môi trường tự nhiên, rút ngắn thời gian sinh sôi phát triển về số lượng cá thể loài. Hai là, nguồn lợi thủy sản phân bố không đồng đều ở các vùng nước. Sự phân bố của số lượng các loài, số lượng cá thể từng loài phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự 4 Mai Linh, “Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản”, https://www.vn/So/sonongnghiepptnt/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=7377#:~:text=Vai%20t r%C3%B2%20c%E1%BB%A7a%20ngu%E1%BB%93n%20l%E1%BB%A3i%20th%E1%BB%A7y%20s% E1%BA%A3n&text=C%C3%B9ng%20v%E1%BB%9Bi%20%C4%91%C3%B3%2C%20ngu%E1%BB%9 3n%20l%E1%BB%A3i,trong%20v%C4%83n%20h%C3%B3a%20ng%C6%B0%20d%C3%A2n, truy cập ngày 01/07/2023.
10 nhiên như nguồn nước, diện tích mặt nước, chất lượng nguồn nước, thời tiết, khí hậu ở từng vùng nước, và các yếu tố khác như sự đa dạng sinh học ở mỗi vùng nước là khác nhau. Ví dụ chất lượng nguồn nước là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn và phát triển của thủy sản, bao gồm những điều kiện về nhiệt độ, độ pH, DO, độ mặn…5. Mỗi loài thủy sản có khả năng chịu đựng một khoảng pH khác nhau, và độ pH có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của thủy sản, độ pH quá cao hay quá thấp đều có sự ảnh hưởng nhất định đến đời sống của chúng6. Do đó, các loài thủy sản sẽ phân bố ở những vùng nước có độ pH phù hợp với điều kiện phát triển của chúng, dẫn đến việc chúng sẽ không phân bố đồng đều ở các vùng nước khác nhau.
Ba là, nguồn lợi thủy sản ở các vùng biển của Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng. Trong phạm vi các loài cá, ngoài những loài cá phổ thông như cá nục, cá thu, cá ngừ… biển Việt Nam còn xuất hiện nhiều loại cá quý hiếm không chỉ có giá trị thực phẩm và còn có ý nghĩa khoa học, y học phong phú và đa dạng như: Cá bò râu, cá bò xanh hoa đỏ, cá bống bớp, cá nhám lông nhung… Trên thế giới có 07 loài rùa biển được ghi nhận, các vùng biển Việt Nam đã xuất hiện 05 trong 07 loài, tuy nhiên tất cả chúng đều được đưa vào diện bảo tồn đặc biệt theo Sách Đỏ7. Ngoài ra, sự đa dạng của hải sản Việt Nam không chỉ được biểu hiện qua số lượng các loài mà còn được thể hiện qua số lượng các nhóm sinh vật biển như cá, giáp xác động vật chân đầu, thực vật biển… Nhìn chung, vùng biển Việt Nam nằm trong đới khí hậu nhiệt đới mang tính chất địa phương là chủ yếu, có tính chất riêng về mặt khí tượng hải văn cũng như chế độ thủy triều phù hợp, do đó nguồn lợi hải sản ở nước ta được đánh giá thuộc hàng phong phú trong khu vực và cần được sử dụng hợp lý để phát triển kinh tế đất nước. 5 Huỳnh Thị Thanh Thảo (2019), Phát triển thủy sản ở các huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, Luận văn thạc sĩ Địa lý học, Trường Đại học Sư phạm Tp.
Hồ Chí Minh, tr. 6 Huỳnh Thị Thanh Thảo, tlđd (5), tr. 7 Thư viện tỉnh Đồng Nai, “Sản vật biển Việt Nam phong phú và đa dạng”, https://www.vn/quandao/Lists/Posts/Post.aspx?List=bde10d1b-33f04c5d87c4- 5ff3d0d7668f&ID=26, truy cập ngày 01/7/2023. Vai trò của nguồn lợi thủy sản đối với môi trường, kinh tế và con người Nguồn lợi thuỷ sản có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên, phát triển kinh tế đặc biệt là ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, bảo đảm cho sự cân bằng sinh học trong thuỷ vực và cung cấp thực phẩm cho con người.
Cụ thể: Một là, vai trò của nguồn lợi thủy sản đối với môi trường. Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, với nhiều hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú, đặc hữu. Mỗi cá thể sinh vật thuỷ sinh đều có những vai trò nhất định trong các mối quan hệ sinh thái. Vì vậy, nếu nguồn lợi thuỷ sản bị giảm đi sẽ làm thay đổi sự phân bố và số lượng các loài, huỷ diệt môi trường, phá vỡ chuỗi thức ăn và hệ sinh thái.
Theo Viện nghiên cứu nguồn lợi thủy sản Việt Nam, tuy nước ta có hệ sinh thái biển phong phú, đa dạng, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài thủy sản đặc hữu, quý hiếm nhưng chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng cao như rùa biển8. Việc suy giảm đáng kể đến mức báo động của loài thủy sản này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái nước ta, tạo ra nguy cơ khuyết thiếu một mắt xích quan trọng trong môi trường sinh thái tự nhiên, suy giảm về số lượng loài quý, hiếm, đặc hữu của một quốc gia vốn là nơi sinh sống và phát triển những loài thủy sản mà không thể tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới là Việt Nam. Hai là, vai trò của nguồn lợi thủy sản đối với kinh tế. Ngành thuỷ sản đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước.
Những năm gần đây ngành thủy sản luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, trong đó đại dịch COVID-19 đã tác động mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu nhưng ngành thuỷ sản đã và luôn thể hiện vị trí mũi nhọn của mình thông qua những con số nhất định, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam. Nhìn lại bức tranh nông, lâm, ngư nghiệp năm 2022, thủy sản là ngành hàng “sáng giá” nhất, với tăng trưởng 23,6% so với năm 2021, đặc biệt, xuất khẩu thủy sản lần đầu tiên đã vượt mốc 10 tỷ USD9. Theo ước tính của Tổng cục thống kê (GSO): Tổng sản lượng thủy sản quý IV/2022 đạt 2.426,5 8 Văn Hào, “Nhiều loài thủy sản quý, hiếm có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng”, https://baotintuc.vn/van-de- quan-tam/nhieu-loai-thuy-san-quy-hiem-co-nguy-co-bi-de-doa-tuyet-chung- htm, truy cập ngày 01/07/2023. 9 Chương Phượng, “Thủy sản tăng trưởng kỷ lục, nhưng phía trước còn nhiều “chông gai””, https://vneconomy.vn/thuy-san-tang-truong-ky-luc-nhung-phia-truoc-con-nhieu-chong-gai.htm, truy cập ngày 01/7/2023.
12 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, tính chung năm 2022, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 9.026,3 nghìn tấn, tăng 2,7% so với năm trước10. Bên cạnh đó, theo báo cáo của VASEP về xuất khẩu thủy sản, tháng 12/2022, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 785 triệu USD, tiếp tục giảm 13% so với cùng kỳ năm 2021 11.