Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet. Chương 2: Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet và kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM DƢỚI DẠNG CHỮ VIẾT HOẶC KÝ TỰ TRONG MÔI TRƢỜNG INTERNET 1. Khái quát về tác phẩm dƣới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trƣờng Internet Môi trường Internet xuất hiện đã và đang có tác động sâu sắc tới lĩnh vực bảo hộ QTG.
Đề có thể hiểu rõ và bảo hộ tốt tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet thì yếu tố đầu tiên cần quan tâm là về khái niệm, lịch sử hình thành và động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet; các đặc điểm cơ bản, đặc trưng của loại tác phẩm này cũng như cách thức phân loại của nó. Khái niệm và lịch sử hình thành tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet Vào thế kỷ XX, sự ra đời của máy tính cá nhân và các thiết bị sao chụp hình ảnh (máy scan) đã mở ra một thời kỳ mới của tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự. Một dạng thức lưu trữ mới ra đời là dữ liệu điện tử. Tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự được trình bày thành các dữ liệu điện tử trên màn hình số, nghĩa là nội dung tác phẩm được số hóa thành tín hiệu điện và thể hiện trên một thiết bị điện tử nào đó.
Trong thời kỳ này muốn đọc được tác phẩm đã được số hóa, người đọc phải dùng máy tính cá nhân, một thiết bị cồng kềnh và khó mang theo. Do đó, tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự in trên giấy còn giữ nguyên các đặc điểm nổi trội là dễ dàng sử dụng và vẫn là phương tiện chủ yếu để truyền bá tri thức. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XX sang thế kỷ XXI xuất hiện một làn sóng công nghệ - làn sóng công nghệ với sự ra đời và phổ cập của máy tính cá nhân và mạng thông tin toàn cầu Internet. Môi trường kỹ thuật số đã và đang đem đến sự thay đổi một cách căn bản về cách thức sao chụp, sử dụng, trao đổi, lưu hành, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật4.
Các thiết bị đọc được cải tiến trở nên nhỏ gọn và tiện dụng hơn, cùng với đó là sự ra đời của Internet giúp cho việc truyền đạt và phổ biến thông tin trở nên dễ dàng hơn mà không cần sử dụng vật liệu giấy. 4 Vũ Thị Phương Lan, tlđd (2), trang 20 và 21. 12 Sự ra đời của Internet: Năm 1955, một hệ thống mạng thông tin nhằm mục đích thương mại lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới được thực hiện bởi IBM5. Nó đã kết nối 1200 máy điện báo trên khắp Hoa Kỳ nhằm mục đích đặt chỗ cho các chuyến bay của hãng hàng không American Airlines.
Nhờ vào cuộc cách mạng công nghệ và thông tin, những hệ thống mạng khép kín6 đã dần dần chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong việc tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp phục vụ cho những hoạt động thương mại hay tài chính quốc tế. Trong những năm 1960, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã sử dụng hệ thống ARPANET (Avanced Research Projects Agency Network) để phát triển phương thức liên lạc thông tin mới, Internet bắt đầu được hình thành. Từ năm 1980, mạng ARPANET kết nối với một số mạng khác và mở rộng phạm vi người sử dụng theo phương thức TCP/IT7. Năm 1993 và 1994, mạng toàn cầu (world wide web (WWW)) chính thức được thiết lập cùng với các tổ chức vận hành Internet.
Vào những năm 1970, mới chỉ có 3 mạng vận hành trên Internet thì cho tới năm 1996, con số đó đã tăng lên 50. Ngày nay, con số đó không thống kê hết được. Không có một tổ chức đơn lẻ nào kiểm soát hoàn toàn Internet và Internet cũng không có một cơ sở tập trung dữ liệu duy nhất8. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin ở Việt Nam9: Từ những năm “đổi mới” ở Việt Nam, việc sử dụng máy tính trở nên ngày càng rộng rãi tuy ít nhiều mang tính chất tự phát.
Ở giai đoạn này, việc sử dụng Internet ở Việt Nam vẫn chưa được phổ biến. Trong giai đoạn năm 2000, số lượng máy tính cá nhân trong tương quan với dân số Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn khi so sánh với các quốc gia khác 5 IBM, viết tắt của International Business Machines, là một tập đoàn về công nghệ máy tính đa quốc gia có trụ sở tại Armonk, New York, Mỹ. IBM được thành lập năm 1911 tại Thành phố New York, lúc đầu có tên là Computing Tabulating Recording (CTR) và đổi thành International Business Machines vào năm 1924. 6 Mạng khép kín là hệ thống mạng mà việc truy cập của nó chỉ được giới hạn trong một vùng địa lý cụ thể hoặc cho một chức năng cụ thể.
Đó chính là hệ thống mạng nội bộ trong công ty hoặc cơ quan hành chính. Trái với mạng khép kín, mạng mở là hệ thống mạng mà mọi người đều có thể truy cập vào. 7 TCP/IP là viết tắt của cụm từ Transmission Control Protocol/internet Protocol. TCP/IP điều khiển truyền thông giữa tất cả các máy tính có kết nối internet.
Cụ thể hơn, TCP/IP chỉ rõ cách thức đóng gói thông tin (hay còn gọi là gói tin), đượcgửi và nhận bởi các máy tính có kết nối với nhau. TCP/IP được phát triển vào năm 1978 bởi Bob Kahn và Vint Cerf. 8 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2015), Quyền tác giả trong không gian ảo, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 13 và 14. 9 Nguyễn Thị Hồng Nhung, tlđd (8), trang 15 và 16.
13 trong khu vực Đông Nam Á10. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam đã liên tục đứng top 20 quốc gia có người dùng Internet lớn nhất thế giới với tỷ lệ hơn 30% dân số11. Tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet là sản phẩm của quá trình phát triển các công nghệ điện tử. Tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet bên cạnh những đặc điểm riêng biệt thì nó vẫn giữ lại một số đặc điểm của tác phẩm in trên giấy truyền thống, như một nguồn tài liệu để nâng cao tri thức, bồi dưỡng thẩm mỹ, đạo đức, quan điểm sống cho con người trong các thời đại.
Rõ ràng, muốn bảo hộ QTG đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet thì phải hiểu rõ khái niệm “tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự” là gì và nó được thể hiện như thế nào trong môi trường Internet? Có một sự thật là trong pháp luật Việt Nam và trong các tài liệu liên quan không có nêu lên định nghĩa trực tiếp như thế nào là một tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet mà chỉ dừng lại ở định nghĩa tác phẩm là gì. Tại khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 (sau đây viết tắt là Luật SHTT) có quy định: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”. Quy định này hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 2 Công ước Berne năm 1886 về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sau đây viết tắt là Công ước Berne): “Thuật ngữ “Các tác phẩm văn học và nghệ thuật” bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại;…”. Theo quy định của khoản 1 Điều 2 Luật Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo nguyên gốc thể hiện tâm tư tình cảm của con người”12.
Còn theo Điều 4 Luật Bản quyền Estonia: “Nhằm mục đích của luật này, tác phẩm là bất cứ thành quả nguyên gốc nào trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học được thể hiện dưới một 10 Khoảng cuối năm 1997, ở Việt Nam, tỷ lệ giữa máy tính cá nhân và dân số là 5,19/1000, xấp xỉ tỷ lệ với Indonesia (5/1000); trong khi đó ở Malaysia là 11/1000 và Singapore là 80/1000. 11 Theo thống kế của Trung tâm Internet Việt Nam VNNIC, năm 2012, số lượng người sử dụng Internet là 31.211 người, chiếm khoảng 35,58%. 12 Nguyễn Thái Cường (2020), Bình luận bản án quyền tác giả - Góc nhìn pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, trang 33. 14 hình thức khách quan có thể nhận biết được và sao chép được dưới hình thức này hoặc trực tiếp hoặc bằng các thiết bị kỹ thuật.
Một tác phẩm có tính nguyên gốc nếu là thành quả sáng tạo trí tuệ của chính tác giả”. Theo tác giả Trần Văn Nam, “tác phẩm là các sản phẩm trí tuệ do cá nhân/ những cá nhân trực tiếp sáng tạo ra trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được thể hiện bằng bất kỳ phương thức hay hình thức nào thông qua một dạng vật chất nhất định”13. Theo điểm a khoản 1 Điều 14 Luật SHTT, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác được bảo hộ bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác. Và theo Điều 7 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/02/2018 về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về QTG, quyền liên quan (sau đây viết tắt là Nghị định 22/2018/NĐ-CP), tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 của Luật SHTT là tác phẩm thể hiện bằng chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau.
Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, sự ra đời của mạng Internet, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự được số hóa thành các tín hiệu điện và được đưa vào mạng Internet.