Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trên Báo In: Thực Trạng Và Giải Pháp

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2015

126
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THÔNG TIN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO IN

1.1. Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in

1.2. Đặc trưng, thế mạnh của báo in trong thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo

1.3. Quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo chí

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO IN

2.1. Tổng quan về nội dung và dung lượng thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in

2.2. Nội dung thông tin về bảo vệ chủ quyền biển đảo

2.3. Hình thức thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO IN HIỆN NAY

3.1. Đánh giá chung về công tác thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in

3.2. Một số giải pháp tăng cường thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in hiện nay

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ chủ quyền biển đảo và vai trò của báo in

Bảo vệ chủ quyền biển đảo là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam với vị trí địa lý chiến lược. Báo in hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề này. Các tờ báo không chỉ cung cấp thông tin mà còn định hướng dư luận, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của chủ quyền biển đảo

Chủ quyền biển đảo không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân. Việc hiểu rõ về chủ quyền biển đảo giúp nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc.

1.2. Vai trò của báo in trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo

Báo in có khả năng truyền tải thông tin nhanh chóng và hiệu quả, giúp người dân nắm bắt kịp thời các thông tin liên quan đến bảo vệ biển đảo.

II. Những thách thức trong công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Các tranh chấp trên Biển Đông ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự chú ý và hành động kịp thời từ các cơ quan truyền thông. Báo in cần phải phản ánh chính xác và kịp thời các diễn biến này.

2.1. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông

Các tranh chấp giữa Việt Nam và các nước láng giềng đang diễn ra ngày càng gay gắt, ảnh hưởng đến an ninh và phát triển kinh tế của đất nước.

2.2. Những khó khăn trong việc tuyên truyền thông tin

Việc truyền tải thông tin chính xác và kịp thời về bảo vệ biển đảo gặp nhiều khó khăn do sự can thiệp từ các yếu tố bên ngoài.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo

Để nâng cao hiệu quả thông tin về bảo vệ chủ quyền biển đảo, các tờ báo cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc cải tiến nội dung và hình thức thông tin là rất cần thiết.

3.1. Cải tiến nội dung thông tin trên báo in

Nội dung thông tin cần được cập nhật thường xuyên, phản ánh đúng tình hình thực tế và quan điểm của Đảng và Nhà nước về chủ quyền biển đảo.

3.2. Đổi mới hình thức trình bày thông tin

Hình thức trình bày thông tin cần hấp dẫn và dễ tiếp cận hơn để thu hút sự quan tâm của độc giả.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in

Thông tin từ các tờ báo không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về bảo vệ biển đảo. Các nghiên cứu cho thấy rằng thông tin chính xác có thể tạo ra sức mạnh cộng đồng trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia.

4.1. Tác động của thông tin đến nhận thức cộng đồng

Thông tin từ báo in đã giúp người dân hiểu rõ hơn về tình hình biển đảo, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc.

4.2. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả thông tin

Nghiên cứu cho thấy rằng việc cung cấp thông tin kịp thời và chính xác đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho báo in trong bảo vệ chủ quyền biển đảo

Báo in cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Việc cải tiến nội dung và hình thức thông tin sẽ giúp nâng cao hiệu quả tuyên truyền và tạo ra sự đồng thuận trong xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc duy trì thông tin liên tục

Việc duy trì thông tin liên tục về bảo vệ biển đảo là rất cần thiết để người dân luôn được cập nhật và có ý thức hơn trong việc bảo vệ Tổ quốc.

5.2. Định hướng phát triển báo in trong tương lai

Báo in cần có những định hướng phát triển rõ ràng để đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả về chủ quyền biển đảo.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận của thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in. Chương 2: Thực trạng thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in (Khảo sát Báo Nhân dân, Báo Khánh Hòa và Báo Thanh Niên giai đoạn từ tháng 5/2011 đến tháng 5/2014). Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thông tin bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in hiện nay. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THÔNG TIN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO IN 1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến bảo vệ chủ quyền biển đảo trên báo in 1.1 Biển đảo a) Biển: Trong từ điển tiếng Việt, biển được định nghĩa: 1.

Vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt trái đất; 2 Vùng đại dương ven lục địa được ngăn cách bởi đảo hay đất liền; 3 Khối lượng nhiều đông đảo được ví như biển.Ví dụ Mọi thứ chìm trong biển lửa. Theo định nghĩa thông dụng, biển là phần riêng biệt của đại dương ăn sâu vào đất liền ít hay nhiều. b) Khái niệm Đảo và Quần Đảo Trong công ước của Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, điều 121 Quy định: Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước [Trích điều 121, Công ước luật Biển 1982]. Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh.

Đối với người đi Biển thì Đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gốm các đảo, đá. Theo nghĩa pháp lý: Điều 46 Công ước Luật Biển 1982 quy định: “Quần Đảo là một nhóm đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước nối các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thống nhất địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử”. Một nước ven biển có năm vùng biển: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa c) Nội thủy Điều 8 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định: “Nội thủy là toàn bộ vùng nước tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở dùng để 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính chiều rộng của lãnh hải. Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình”.

d) Lãnh hải Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở. Theo luật biển quốc tế cho đến những năm 60 của thế kỷ 20, chiều rộng của lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ có 03 hải lý (mỗi hải lý bằng 1. Theo luật biển quốc tế hiện đại, cụ thể là điều 3 của Công ước Luật Biển năm 1982 thì chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý. e) Vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài và sát với lãnh hải.

Chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải cũng không quá 12 hải lý. Quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa việc vi phạm các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, nhập cư hay y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình. Quốc gia ven biển cũng có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải để trừng trị việc vi phạm các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình. f) Vùng đặc quyền kinh tế Đó là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ ðường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế có 188 hải lý).

Đây là một chế định pháp lý hoàn toàn mới vì theo luật biển quốc tế cho đến những năm 50 của thế kỷ 20, các quốc gia ven biển không có vùng biển này. g) Thềm lục địa Thềm lục địa của quốc gia ven biển là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển. Trên thực tế, rìa ngoài của thềm lục địa ở các khu vực có khác nhau: Có nơi hẹp, không đến 200 hải lý; nhưng có nơi rộng đến hàng trăm hải lý. Điều 76 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rất rõ ràng.

Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối thiểu 200 hải lý (kể cả khi thềm lục địa thực tế hẹp hơn 200 hải lý). 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều cần nhấn mạnh là, một mặt các quốc gia ven biển được hưởng các quyền tương ứng như đã nêu trên đối với các vùng biển của mình, nhưng mặt khác họ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển khác. Theo “Những điều cần biết về Đất Biển Trời nước ta” tác giả Lưu Văn Lợi,. Việt Nam giáp với biển Đông ở hai điểm Đông và Nam.

Vùng biển Việt Nam là một phần của Biển Đông, chiếm khoảng 29% diện tích của Biển Đông (khoảng 1 triệu km) rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền, bờ biển dài 326 km, như vậy cứ trên 100km có 1 km bờ biển.2 Vai trò của Biển đảo đối với nước ta Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km2 trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1 km2 bờ biển) đứng đầu các nước Đông Dương, trên Thái Lan và xấp xỉ Malaysia. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển.

Biển, đảo giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: a) Về kinh tế, chính trị - xã hội: Theo các tài liệu được công bố hiện nay của Bộ Quốc Phòng nước ta [Báo cáo tham luận tại Hội nghị tuyên truyền Viên của thiếu tá Nguyễn Văn Vững, Tổng cục II, 2011]. Biển Đông kéo dài từ bờ biển nam Đảo Đài Loan xuống bờ Bắc Indonexia, có diện tích khoảng 3,5 triệu Km, được 8 quốc gia bao bọc xung quanh: Phía Bắc giáp Trung Quốc – Đài Loan; Phía Nam giáp Thái Lan, Malaisia, Indonesia; Tây giáp Việt Nam, campuchia; Đông giáp philippinnes và Bruney. Biển Đông là vùng biển có một trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất trên thế giới đi qua. Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải).

Hàng ngày có khoảng 200-300 tàu từ 5.000 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tấn trở lên qua lại (không kể dưới 5.000 tấn) chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới. Là tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch mang tính chiến lược của các nước trong khu vực và thế giới; nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Châu Âu, Trung Đông với Châu Á và giữa các nước Châu Á với nhau; chuyên chở 1/2 sản lượng dầu thô và các sản phẩm toàn cầu. Với Mỹ: Là tuyến hoạt động chính của Hạm đội 7, có 90% hàng hóa của Mỹ và đồng minh chuyên chở qua Biển Đông; với Trung Quốc hàng năm nhập 160 triệu tấn dầu thì 50% dầu nhập và 70% hàng hóa qua Biển Đông; với Nhật Bản 70% lượng dầu nhập khẩu và 42% lượng hàng hóa xuất khẩu chuyên chở qua Biển Đông. Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực.

Ngoài ra sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới. Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bề trầm tích có triển vọng dầu khí với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng khai thác khoảng 2 tỉ tấn, đặc biệt khí thiên nhiên có tiềm năng rất lớn.

Hiện nay, chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cung cấp hàng chục triệu tấn dầu và hàng tỷ mét khối khí phục vụ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho phát triển kinh tế và dân sinh. Ngoài ra còn có các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, băng cháy, cát thủy tinh, muối và các loại vật liệu xây dựng khác. Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như: tôm cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó có trên 100 loài có giá trị kinh tế cao.

Đến nay đã xác định có 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó có 12 bãi cá phân bổ ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi. Dọc ven biển còn có hơn 80 vạn héc-ta bãi triều và các eo vịnh, đầm phá ven bờ rất thuận lợi để nuôi trồng hải sản có giá trị xuất khẩu cao như tôm, cua, ngọc trai, cá song, cá mú, rong câu… Với tiềm năng trên, trong tương lai chúng ta có thể phát triển ngành nuôi trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại tạo ra nguồn xuất khẩu có kim ngạch lớn và khả năng cạnh tranh cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ