Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI XTIÊNG BÙ ĐEK Ở LỘC NINH 1. Khái niệm văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa phi vật thể là một trong hai loại hình di sản văn hóa được các nhà nghiên cứu, các cơ quan xác định. Đó là loại hình di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Đây là lĩnh vực chứa đựng nhiều nội dung rộng, mang tính vô hình.
Việc nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và thế giới tiếp cận từ rất sớm (khoảng thế kỷ XVII). Cho đến nay, có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể. “Văn hóa vật thể là những hình thái biểu trưng, tồn tại ổn định trong không gian, và thường trực theo thời gian. Văn hóa phi vật thể thì tiềm ẩn trong trí nhớ của con người,…”.
Ở khái niệm này, có thể hiểu văn hóa phi vật thể tồn tại tiềm ẩn trong tâm trí con người, khách thể hóa thông qua hoạt động của con người chúng ta mới thấy được văn hóa phi vật thể. [30, tr246] Ông Đặng Văn Bài trong bài “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể - từ góc nhìn toàn cầu hóa” cũng đã viết: “Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối: Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại. Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác”.
Ông khẳng định: Phần lớn di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể biểu hiện các mặt giá trị thông qua các cử chỉ, hoạt động trình diễn của các nghệ nhân dân gian - những chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu các di sản [3,tr3]. 14 Công ước quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO được đưa ra tại cuộc họp đại hội đồng, phiên họp thứ 32 tại Pari từ ngày 29/9 đến 17/10 năm 2003 đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể như sau: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, kỹ năng kèm theo đó là những công cụ, những đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tinh thần sáng tạo của con người.
Từ định nghĩa trên, UNESCO xác định di sản văn hóa phi vật thể thể hiện ở những loại hình sau [47, tr380]: - Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể. - Nghệ thuật trình diễn. - Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội. - Tri thức và tập tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ.
- Nghề thủ công truyền thống. Ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể được quy định tại điều 4 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn các hình thức khác”. Tại Điều 2 Nghị định 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di 15 sản văn hóa chia di sản văn hóa phi vật thể bao gồm bảy lĩnh vực là: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề truyền thống; Tri thức dân gian. Trong đó, các lĩnh vực có thể hiểu như sau [37, tr1]: - Tiếng nói, chữ viết: Mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng của cộng đồng.
Nó được hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Đối với chữ viết, có những dân tộc đã xuất hiện chữ viết từ xa xưa và phát triển hoàn thiện cho đến ngày nay, có những dân tộc cho đến nay, chữ viết cũng chỉ mới dừng lại ở hình thức sơ khai. Đó là đặc trưng riêng của mỗi dân tộc. - Ngữ văn dân gian: Bao gồm tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ.
Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian. - Nghệ thuật trình diễn dân gian: Đó là các loại hình nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian, trò chơi dân gian.); nghệ thuật trình diễn dân gian (múa dân gian, âm nhạc dân gian, các trò diễn,. - Tập quán xã hội và tín ngưỡng: Bao gồm các phong tục tập quán, các tín ngưỡng dân gian do cộng đồng sáng tạo ra từ lâu đời. - Lễ hội truyền thống: Các lễ hội truyền thống do cộng đồng sáng tạo ra qua quá trình hoạt động thực tiễn nhằm đáp ứng các nhu cầu về tinh thần của cộng đồng.
- Nghề thủ công truyền thống: Là các nghề sản xuất các vật dụng, công cụ lao động, sản phẩm thủ công mỹ nghệ,… đáp ứng nhu cầu sử dụng của cộng đồng. - Tri thức dân gian: Đó là các tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu.); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức về lao động sản xuất (kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật và công cụ sử dụng để sản xuất). 16 Như vậy, so với định nghĩa của UNESCO đưa ra, định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam có thêm hai loại hình là Lễ hội truyền thống và ngữ văn dân gian. Tuy nhiên, thực chất hai loại hình này chỉ là sự tách riêng từ năm loại hình do UNESCO đưa ra (Trong định nghĩa của UNESCO, Lễ hội đặt chung với loại hình Tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống; Ngữ văn dân gian đặt chung với nội dung Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể).
Sự tách ra này có mục đích làm rõ hơn các nội dung để các cơ quan tập trung hơn, quan tâm, nghiên cứu sâu. Một vấn đề khác, trong khái niệm của Việt Nam, một số nội dung rõ hơn và cụ thể hơn, phù hợp hơn với đặc điểm văn hóa của các cộng đồng cư dân ở Châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng. Điều này cũng giúp cho công tác nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tốt hơn. Đó là xác định di sản tri thức dân gian bao hàm cả tri thức dân gian về tự nhiên và xã hội, không chỉ có tri thức về tự nhiên và vũ trụ.
Trong di sản tiếng nói, chữ viết và truyền khẩu dân gian cũng được tách ra để phân rõ từng nội dung cụ thể. Lý thuyết nghiên cứu Di sản văn hóa phi vật thể đã được xác định gồm có năm loại hình (theo quan điểm của UNESCO) và bảy loại hình (theo quan điểm của Việt Nam) nhưng có nội dung nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều ngành khác nhau. Do đó cần phải tiếp cận nhiều lý thuyết nghiên cứu của các lĩnh vực có liên quan. Các lý thuyết nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn là: lý thuyết nghiên cứu về văn hóa, lý thuyết nghiên cứu về văn hóa dân gian, lý thuyết nghiên cứu về di sản văn hóa, lý thuyết nghiên cứu về bảo tồn di sản văn hóa và lý thuyết nghiên cứu về phát huy di sản văn hóa,… - Các lý thuyết nghiên cứu về văn hóa Văn hóa là lĩnh vực bao hàm gồm nhiều nội dung rộng lớn, có nhiều nhà khoa học trong nước và thế giới tiếp cận, nghiên cứu và đưa ra các khái niệm, định nghĩa về văn hóa.
Để nghiên cứu vấn đề, tác giả sử dụng các định 17 nghĩa, khái niệm về văn hóa để góp phần nhận diện các loại hình văn hóa có liên quan đến nội dung của luận văn. Cho đến nay, có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa, trong đó có một số định nghĩa tác giả tiếp cận như sau: + E. Tylor trong định nghĩa về văn hóa được đưa ra năm 1871 như sau “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”2. + Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [20, tr169]. Như vậy, theo Người, văn hóa là bao gồm những gì do con người sáng tạo ra để phục vụ những nhu cầu của họ. Như vậy, cũng như định nghĩa về văn hóa của E. Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh văn hóa là một “bách khoa toàn thư” khái quát về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, do con người sáng tạo ra và phục vụ các nhu cầu của con người.