Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NÊN TƯ TƯỞNG BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN TỘC CỦA TRẦN TRỌNG KIM 1. Những điều kiện khách quan 1. Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX 1. Bối cảnh thế giới Đến cuối thế kỷ XIX, chế độ tư bản chủ nghĩa đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc).
Các nước đế quốc một mặt tăng cường áp bức nhân dân lao động trong nước, mặt khác đẩy mạnh quá trình xâm lược và bóc lột các nước thuộc địa. Chính sách cai trị tàn bạo của các nước đế quốc khiến cho cuộc sống của nhân dân lao động ở các dân tộc thuộc địa trở nên khó khăn, cùng cực. Mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa với thực dân, đế quốc ngày càng trở nên gay gắt, các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã diễn ra sôi nổi ở khắp các nước thuộc địa. Đến đầu thế kỉ XX, tình hình quốc tế trở nên căng thẳng.
Những mâu thuẫn về lợi ích giữa các cường quốc đã đẩy thế giới đến bên bờ vực của một cuộc chiến tranh. Các nước đế quốc, trong đó có Pháp ráo riết chạy đua vũ trang, chuẩn bị tiến hành một cuộc chiến tranh nhằm phân chia lại thị trường thuộc địa. Giới cầm quyền Pháp tăng cường hành động để sẵn sàng cho cuộc chiến tranh. Ngày 1 tháng 8 năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ với sự đối đầu giữa hai phe Hiệp ước (gồm Anh, Pháp, Nga.) và Liên Minh (gồm Đức, Áo - Hung, Thổ Nhĩ Kì.
Thực dân Pháp huy động tối đa sức người, sức của ở các thuộc địa để phục vụ cho cuộc chiến tranh. Sau bốn năm, cuộc chiến phi nghĩa này đã để lại những hậu quả đau thương cho nhân loại (khoảng 10 triệu người chết và 20 triệu người tàn phế do chiến tranh), đồng thời nó cũng đã khiến cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu và làm gia tăng mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc với nhau. Mặc dù là nước thắng trận, nhưng Pháp phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Để khắc phục hậu quả chiến tranh, thực dân Pháp đã tăng cường khai thác, vơ vét thuộc địa.
Chính 7 c sách khai thác của thực dân Pháp đã có tác động lớn đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình Huế kí với Pháp Hiệp ước Patenôtre công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Đến đây, giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. “Nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách là một nhà nước độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ.
Nước Việt Nam đã trọn vẹn trở thành thuộc địa của tư bản Pháp” [3, tr. Ngay sau đó, thực dân Pháp thực hiện những chính sách củng cố bộ máy cai trị trong toàn cõi Việt Nam. Hiệp ước Patenôtre đã chia nước ta ra làm ba miền với ba chế độ chính trị khác nhau. Đây chính là điểm mấu chốt trong chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp.
Triều đình Huế lúc này chỉ tồn tại trên danh nghĩa, mất hết thực quyền. Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, thực dân Pháp một mặt ra sức củng cố và mở rộng chỗ dựa xã hội, mặt khác tăng cường đề phòng, đàn áp các phong trào cách mạng khi chúng đang bận tham chiến, để trên cơ sở mới tăng cường bắt người, vét của ném vào lò lửa chiến tranh. Trước tiên, thực dân Pháp đã nới rộng phần nào quyền hạn cho chính quyền phong kiến, Toàn quyền Đông Dương cho tăng thêm đại biểu bản xứ trong các cơ quan bầu cử, mở rộng khối cử tri bản xứ để có đại biểu. Thực dân Pháp cũng thực hiện một số cuộc “cải lương hương chính” nhỏ nhặt, nặng về hình thức.
Chính quyền thuộc địa đã thực hiện chính sách đàn áp kết hợp với ôn hòa bằng việc mua chuộc tầng lớp quan lại thượng lưu, quan lại bản xứ, xây dựng cơ sở xã hội vững chắc ở Việt Nam, đồng thời cũng cấu kết với các thế lực phản động đàn áp, cô lập cách mạng Việt Nam nhằm ổn định thuộc địa, huy động tiềm năng của thuộc địa phụ vụ cho cuộc chiến tranh ở Pháp. Chính sách của thực dân Pháp đã khiến cho một 8 c bộ phận người Việt Nam tin rằng có thể dựa vào Pháp để xây dựng đất nước tiến bộ. Sau khi cơ bản bình định được tình hình Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành vơ vét thuộc địa. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1896 - 1914) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) của thực dân Pháp đã tạo nên những biến sâu sắc đối với nền kinh tế của Việt Nam.
Chúng tiến hành khai thác trên tất cả những lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp đến thương nghiệp và cả tài chính, bên cạnh đó cũng thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng cường đầu tư phát triển giao thông vận tải nhằm phục vụ cho quá trình khai thác. “Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không đơn giản là quá trình đầu tư vốn và mở rộng quy mô khai thác, mà kèm theo sự đầu tư là các nhân tố kĩ thuật và con người. Nhưng tiếc thay, kết quả của cuộc khai thác ấy lại chỉ là sự mở rộng, nhân lên của tình trạng sản xuất lạc hậu trong các cơ sở kinh tế. Số máy móc và tiến bộ kĩ thuật được áp dụng trong sản xuất cực kì hạn chế và ít ỏi” [3, tr.
Đặc điểm rõ nhất của toàn bộ cơ cấu nền kinh tế Việt Nam sau hai cuộc khai thác của thực dân Pháp là sự phát triển không đồng đều: nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu bên cạnh một nền công nghiệp yếu ớt. Trong công nghiệp các ngành công nghiệp nhẹ như khai mỏ, sản xuất hàng tiêu dùng chiếm phần lớn việc kinh doanh còn các ngành công nghiệp nặng như hóa chất, luyện kim, cơ khí,. hầu như không phát triển, thương nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào tư bản Pháp và Hoa kiều. Nền kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX đã có những mầm mống của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào các khu vực kinh tế nông, công, thường nghiệp, đồng thời, thực dân Pháp vẫn duy trì phương thức bóc lột cũ theo kiểu phong kiến.
Nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc chặt chẽ vào tư bản Pháp. Những thay đổi về kinh tế đã tạo ra những biến chuyển căn bản trong cơ cấu xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX. Nhân dân lao động bị bần cùng hóa, 9 c nông thôn lẫn thành thị đều có những biến chuyển rõ rệt. Những biến đổi về cơ cấu xã hội tất yếu có ảnh hưởng đến tính chất của phong trào cách mạng trong giai đoạn này.
Các giai cấp, tầng lớp cũ bắt đầu phân hóa. Giai cấp địa chủ được củng cố, phát triển thế lực mạnh hơn trước. Thế lực của họ được đảm bảo thông qua sự tập trung ruộng đất dưới sự bảo hộ của người Pháp. Giai cấp địa chủ chiếm khoảng 7% dân số ở các vùng nông thôn nhưng nắm trong tay 50% diện tích ruộng đất với hình thức bóc lột chủ yếu là phát canh thu tô.
Bản thân giai cấp địa chủ cũng bị phân hóa thành hai bộ phận: đại địa chủ có quyền lợi gắn chặt với thực dân Pháp, trung; tiểu địa chủ ít nhiều có tinh thần dân tộc. Giai cấp nông dân chiếm đại đa số trong xã hội với khoảng 90% dân số. Họ bị địa chủ bóc lột nặng nề, sưu cao thuế nặng, chế độ phu phen hà khắc của chính quyền thực dân. Cuộc khai thác của thực dân Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thì quá trình bần cùng hóa của nông dân càng nhanh chóng bấy nhiêu.
Nông thôn nước ta ngày một phân hóa nhưng tốc độ chậm hơn so với thành thị, tuy có xuất hiện một vài yếu tố mới nhưng về căn bản quan hệ phong kiến vẫn còn thống trị. Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam bấy giờ. Bên cạnh các giai cấp cũ xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới. Giai cấp công nhân ra đời và phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của nền công nghiệp.
Giai cấp công nhân chủ yếu xuất thân từ nông dân, họ không còn tư liệu sản xuất nên buộc phải đi làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, một số công nhân qua con đường tuyển mộ cưỡng bức, một số thì làm thuê theo mùa vụ. Họ phải làm việc trong điều kiện cực khổ với đồng lương rẻ mạt lại thường xuyên bị đánh đập tàn nhẫn. Do bị áp bức nặng nề nên họ đã sớm có tinh thần đoàn kết đấu tranh. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từng bước phát triển với nhiều hình thức đấu tranh mới chưa từng có trước đây: đình công, bãi công, bỏ trốn tập thể.
Giai cấp tư sản Việt Nam cũng ra đời. Do không có những tiền đề kinh tế từ trước, phải trải qua quá trình tích 10 c lũy vốn để phát triển sản xuất nên giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn. Đến đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản Việt Nam mặc dù có phát triển nhưng phải chịu sự chèn ép của tư sản Pháp và tư sản Hoa kiều. Ngoài bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn kết chặt chẽ với tư bản pháp còn có bộ phận tư sản dân tộc, ít nhiều có tinh thần yêu nước nhưng cũng dễ dàng thỏa hiệp khi được nhượng bộ các quyền lợi kinh tế.
Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa nói chung là cơ sở thuận lợi để tiếp thu các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài. Cùng với sự ra đời của giai cấp tư sản còn có tầng lớp tiểu tư sản. Tầng lớp tiểu tư sản ra đời trước giai cấp tư sản và tăng lên nhanh chóng về mặt số lượng, nhất là tiểu tư sản trí thức như viên chức, học sinh, sinh viên. Tuy cuộc sống vật chất của họ có khá hơn đôi chút so với công nhân và nông dân nhưng họ cũng bị chèn ép nhiều về mặt chuyên môn cũng như chính trị, thấm sâu nỗi nhục của người dân mất nước.
Tầng lớp tiểu tư sản trí thức sớm có điều kiện tiếp xúc với nhiều tư tưởng tiến bộ bên ngoài và góp phần truyền bá những tư tưởng ấy vào trong quần chúng nhân dân.