phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng chính: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và thực trạng Chƣơng 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn trong quản lý bảo tồn Làng xã gắn với di sản trong bối cảnh đô thị hóa. Chƣơng 3: Chƣơng trình hành động trong quản lý Bảo tồn - Phát huy giá trị Làng truyền thống tại huyện Đan Phƣợng gắn với du lịch di sản trong bối cảnh đô thị hóa. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG 1. Khái niệm và thuật ngữ Làng truyền thống: Nó là nơi tập hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ láng giềng, cùng sống trên một khu vực gồm một khu đất để làm nhà ở và một khu đất để trồng trọt, một tập hợp những gia đình nhỏ sản xuất và sinh hoạt độc lập.
Làng truyền thống là đơn vị xã hội cơ bản, xã là đơn vị hành chính có thể bao gồm 1 Làng hoặc nhiều Làng. Dƣới xã có các thôn, dƣới Làng có các xóm. Có xã 1 thôn thì Làng, xã, thôn là một. Có khi nhiều xã hợp lại thì một xã lại trở thành thôn.
Tuy xã là đơn vị hành chính, có thể có những thay đổi qua các giai đoạn nhƣng Làng vẫn là đơn vị cơ bản của xã. Nói “Làng xã” là đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa của điểm dân cƣ truyền thống. Di sản kiến trúc: Là công trình kiến trúc có giá trị về lịch sử xây dựng và nghệ thuật kiến tạo tiêu biểu trong lịch sử của một dân tộc, một quốc gia. Di sản phi văn hóa vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ, lƣu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dƣợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Du lịch di sản: Du lịch di sản phát triển khá mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế ở nhiều nƣớc trên thế giới, nhất là các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Đây là loại hình du lịch đƣợc phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Du lịch di sản có nhiều loại hình khác nhau, nhƣ du lịch tâm linh, du lịch cội nguồn, du lịch trải nghiệm văn hóa. 5 Đô thị hóa: Là quá trình dân số tập trung ở thành thị hoặc tăng tỷ lệ dân cƣ sống ở thành thị do dịch cƣ từ nông thôn ra thành thị hoặc do diện tích đất ở đô thị tăng lên (U.
Đô thị di sản: Là đô thị có vị trí và cấu trúc toàn đô thị hay một phần của đô thị đƣợc bảo tồn một cách toàn vẹn, trong đó có hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đƣợc công nhận, đƣợc phát triển trên nguyên tắc bảo tồn, phát huy giá trị di sản và hòa hợp với thiên nhiên (Lưu Đức Hải, 2022). Tổng quan tài liệu Ở Việt Nam, khái niệm về Làng hay ngôi Làng là một khu định cƣ của một cộng đồng ngƣời, nó lớn hơn xóm, ấp nhƣng nhỏ hơn một thị trấn, với dân số khác nhau, từ một vài trăm đến một vài ngàn.Làng thông thƣờng là nơi ở, sinh hoạt cộng đồng xã hội sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên cũng xuất hiện Làng sản xuất phi nông nghiệp. Với đặc điểm của một nƣớc nông nghiệp lúa nƣớc nhƣ Việt Nam thì Làng hay ngôi Làng thƣờng xuất hiện ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, ngày nay, khi quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì Làng hay Làng truyền thống có gì thay đổi.
Làm thế nào để ngƣời dân có thể bảo tồn và phát triển đƣợc du lịch, gắn với sinh kế của ngƣời dân, để từ đó họ chung tay cùng cấp chính quyền bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống vốn đã là Nét xưa trong bối cảnh hiện đại nhƣ hiện nay.KTS Phạm Hùng Cƣờng “Làng xã truyền thống Việt Nam, bảo tồn và phát triển”, NXB Nông nghiệp (2014). Nội dung tài liệu giới thiệu lịch sử về Làng xã truyền thống thuộc Đồng bằng sông Hồng, đồng thời cũng đã đƣa ra đƣợc các giá trị của Làng xã truyền thống về vật thể và phi vật thể. Từ xa xƣa, Làng xã không chỉ đơn thuần là những giá trị tinh thần mà cha ông đã để lại mà còn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - giữ vững ổn định chính trị và nâng cao đời sống của ngƣời dân, đảm bảo xã hội ổn định.“Làm mới lại cấu trúc Làng Việt”, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, Số 4 năm 6 2006, PGS.KTS Phạm Hùng Cƣờng đã đề xuất nhằm biến cấu trúc đóng của Làng thành cấu trúc mở, với 5 nguyên tắc chính đó là: (1). Thiết lập tuyến đƣờng bao.
Đây là giải pháp chủ đạo, đƣờng ô tô bao quanh Làng là kênh k thuật liên kết Làng xã với bên ngoài, với đồng ruộng, với các hoạt động kinh tế, sản xuất, với điểm dân cƣ mở rộng; (2). Nối thông các ngõ cụt ra đƣờng bao, tạo liên kết giao thông dạng mạng; (3). Hệ thống thoát nƣớc không dồn về trung tâm mà phân tán theo đƣờng nối ngõ cụt với đƣờng bao, dễ thu gom và xử lý nƣớc thải; (4). Có một vùng biên là không gian mở phục vụ cho sự phát triển của các công trình công cộng: Chợ, trƣờng học, khu thể thao, khu cây xanh.
Đây cũng là đất dự trữ cho sự xuất hiện của các chức năng mới, quy mô mới; (5). Thiết lập các điểm sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung, chia tách các khu sản xuất quy mô lớn, gây ô nhiễm ra khỏi Làng xã. Có cấu trúc mở này, các phần bên trong của Làng xã mới có điều kiện cải tạo, bảo tồn các công trình lịch sử, các cảnh quan có giá trị. Gần đây nhất, NXB Xây dựng (2021) đăng nội dung về “Quy hoạch và giữ gìn bản sắc văn hóa trong xây dựng nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Hồng” của PGS.KTS Phạm Hùng Cƣờng.
Nội dung tài liệu giới thiệu một số nguyên tắc và giải pháp quy hoạch, thiết kế kiến trúc, cảnh quan và hạ tầng trong trong xây dựng nông thôn mới hƣớng tới mục tiêu nâng cao chất lƣợng môi trƣờng sống, tổ chức không gian Làng xã có bản sắc, đóng góp vào sự phát triển của nông thôn…Tài liệu gồm 6 chƣơng: (1) Bản sắc văn hóa trong Làng xã truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng, (2) Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản cộng đồng trong Làng xã truyền thống, (3) Mô hình phát triển kinh tế nông thôn từ tiềm năng văn hóa, (4) Quy hoạch nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hóa, (5) Thiết kế cảnh quan và giữ gìn bản sắc văn hóa, (6) Quản lý quy hoạch có sự tham gia tích cực của cộng đồng.KTS Phạm Hùng Cƣờng” Bảo tồn thích ứng, phương pháp tiếp cận để bảo tồn và phát huy giá trị di sản Làng xã truyền thống”, Tạp chí Kiến trúc, số 10, 2016. Bài báo khoa học này đã đề cập đến 2 nhóm giá trị hệ thống di sản, đó là 7 Nhóm 1 là hệ thống di sản văn hóa vật thể (gồm: Giá trị di sản về cấu trúc: Cấu trúc không gian, cách thức phát triển và hình thành Làng; Giá trị về kiến trúc nhà ở truyền thống; Giá trị về kiến trúc các công trình công cộng, tôn giáo, tín ngƣỡng: Gồm các công trình tôn giáo, tín ngƣỡng: Đình, chùa, miếu, phủ, văn chỉ, nhà thờ họ…và các công trình phục vụ cộng đồng: Giếng, ao, cổng Làng, lũy tre, đƣờng, cầu, quán…) Nhóm 2 là iá trị di sản phi vật thể và vật thể khác (gồm:Danh nhân: các vị vua, các anh hùng, nhân vật có công với nƣớc, với Làng; Phong tục, tập quán, tín ngƣỡng: Lễ hội, ma chay, cƣới xin, lệ Làng, lễ tết…; Lối sống cộng đồng: Quan hệ láng giềng, dòng họ, gia đình; Truyền thuyết, ngữ văn truyền miệng; Văn bản: Gia phả, văn bia; Phƣơng thức sản xuất, nghề truyền ƣơng thống; Ẩm thực; Trang phục truyền thống; Đồ dùng gia đình truyền thống; Nghệ thuật biểu diễn: Tuồng, chèo, múa rối, quan họ… Bài báo cũng đã đƣa ra vài hạn chế của công tác bảo tồn di sản hiện nay và đƣa ra một số giải pháp để tiếp cận và bảo tồn di sản. Nội dung tài liệu này gồm 6 mục, kết quả nghiên cứu tác giả đã thực nêu ra 3 vấn đề chính: Thứ nhất, về thực trạng các Làng thuộc khu vực đô thị trung tâm tỉnh Bắc Ninh hiện nay; thứ hai các nôi dung chính cần đƣợc bảo tồn tại các Làng trong khu vực đô thị trung tâm tỉnh Bắc Ninh; thứ ba, về mô hình bảo tồn Làng Hahole của Hàn quốc. (Cao Hoài Bắc, 2020) Từ những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đều tập trung đƣa ra các phƣơng án nhằm Bảo tồn thích ứng, phương pháp tiếp cận để bảo tồn và phát huy giá trị di sản Làng xã truyền thống hay một Làng cụ thể để Làm mới lại cấu trúc Làng Việt.
Việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống về lịch sử trong bối cảnh đô thị hóa đang là vấn đề cần đƣợc quan tâm. Làm thế nào để những giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống đƣợc kết tinh bao đời, để bảo tồn những giá trị truyền thống đó đòi hỏi sự nỗ lực chung tay cả chính quyền địa phƣơng và 8 ngƣời dân. Một khi công tác bảo tồn và phát triển đƣợc du lịch, gắn với sinh kế của ngƣời dân đƣợc triển khai đồng nghĩa với việc ngƣời dân trở thành đối tƣợng thụ hƣởng thì việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống vốn của những ngôi Làng Việt mãi trƣờng tồn, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì vấn đề này càng phải đƣợc chú trọng và quan tâm không chỉ ở cấp chính quyền mà cần có sự chung tay của mọi cấp mọi ngành và ngƣời dân. Quá trình hình thành và phát triển đô thị tại Đan Phƣợng 1.
Quá trình hình thành Đan Phƣợng là một vùng đất cổ, theo sách Đại Nam nhất thống chí, tên huyện có từ thể kỷ XIII (thời vua Trần Thái Tông - 1246); đến thời thuộc Minh có tên là Đan Sơn, thuộc châu Từ Liêm, phủ Giao Châu.