Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên động vật rừng Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng khi Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 ghi nhận 406 loài động vật bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó lớp Thú chiếm 90 loài. Hai loài thú lớn bản địa thuộc họ Gấu (Ursidae) gồm gấu ngựa (Ursus thibetanus) và gấu chó (Ursus malayanus) chịu áp lực khai thác khốc liệt nhất do giá trị thương phẩm cao từ mật gấu, bàn chân, xương, da và thịt gấu. Thống kê của Cục Kiểm lâm cho thấy cả nước ghi nhận 4.012 cá thể gấu bị nuôi nhốt trong 1.088 cơ sở tại 57 tỉnh thành, trong đó gấu ngựa chiếm trên 90% và có tới 85% tổng đàn nuôi nhằm mục đích trích hút mật kinh doanh. Tình trạng săn bắt tận diệt kết hợp nuôi nhốt trái phép đã đẩy các quần thể gấu ngoài tự nhiên đến bờ vực tuyệt chủng. Đề tài tập trung phân tích thực trạng khai thác, buôn bán thương mại, kỹ thuật chăn nuôi và hiệu quả can thiệp chính sách tại các địa bàn trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hà Tây cũ, Hòa Bình, Vườn thú Hà Nội và Trung tâm Cứu hộ Động vật hoang dã Sóc Sơn trong giai đoạn 2007 - 2008. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là thiết lập cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng nhằm hoàn thiện giải pháp quản lý, hỗ trợ kiểm soát 100% cá thể gấu nuôi nhốt qua mã số vi mạch điện tử và bảo tồn bền vững nguồn gen thú quý hiếm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) và bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) làm nền tảng đánh giá khả năng duy trì quần thể động vật hoang dã. Khung phân tích kết hợp lý thuyết kinh tế học tài nguyên sinh vật và chuỗi giá trị thị trường để bóc tách hành vi các tác nhân từ khâu săn bắt, thu gom, vận chuyển trung gian đến tiêu dùng cuối cùng. Đề tài chuẩn hóa hệ thống khái niệm chuyên ngành dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật: loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP (nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại); phân hạng bảo tồn cấp Nguy cấp (EN) theo Sách Đỏ Việt Nam và cấp Sẽ nguy cấp (VU) theo Danh lục Đỏ IUCN; danh mục kiểm soát thương mại quốc tế thuộc Phụ lục I Công ước CITES. Nghiên cứu cũng ứng dụng các khái niệm về tiêu chuẩn phúc lợi động vật (animal welfare), chỉ số sinh thái dinh dưỡng và bệnh lý học thú y trong điều kiện nuôi nhốt nhân tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu gồm 30 nhà hàng, quán ăn kinh doanh thịt thú rừng và 4 cơ sở chăn nuôi, cứu hộ lớn với tổng số 95 cá thể gấu được quan sát trực tiếp (gồm 1 gấu chó và 94 gấu ngựa). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng tại các địa bàn có mạng lưới tiêu thụ và trung chuyển sôi động dọc Quốc lộ 21A (Xuân Mai - Hòa Lạc) và Quốc lộ 6 (Xuân Mai - Lương Sơn), bao gồm huyện Lương Sơn (Hòa Bình), Phúc Thọ, Sóc Sơn và nội thành Hà Nội. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với bảng hỏi thiết kế sẵn dành cho 30 chủ cơ sở kinh doanh cùng thực khách, kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm địa bàn và kỹ thuật viên cứu hộ. Nghiên cứu kỹ thuật nuôi sử dụng phương pháp đo đạc trực tiếp kích thước chuồng trại, cân định lượng khẩu phần ăn hàng ngày và ghi nhận hồ sơ bệnh án thú y. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm bóc tách các giao dịch ngầm phi chính thức vốn không thể tiếp cận bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thông thường. Toàn bộ dữ liệu thứ cấp từ Cục Kiểm lâm và Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) giai đoạn 2003 - 2008 được xử lý bằng toán thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật phân bố tập trung cao độ khi 10 tỉnh trọng điểm chiếm tới 53,4% tổng số gấu cả nước (2.141 trên 4.012 cá thể). Trong đó, Hà Tây cũ dẫn đầu với 560 cá thể (chiếm 14,0%), tiếp theo là Nghệ An với 557 cá thể (13,9%), Quảng Ninh với 352 cá thể (8,8%) và Bình Dương với 286 cá thể (7,1%). Phần lớn các hộ gia đình nuôi quy mô nhỏ từ 2 đến 6 cá thể, nhưng cá biệt có trang trại nuôi tập trung quy mô lớn tới 64 cá thể tại Phúc Thọ và 80 cá thể tại Quảng Ninh.

Thứ hai, chuỗi giá trị và thị trường thương mại chứng kiến sự biến động mạnh về mức giá. Sau khi cơ quan quản lý áp dụng quy chế gắn chip điện tử bắt buộc theo Quyết định 02/2005/QĐ-BNN và Quyết định 47/2006/QĐ-BNN, giá mật gấu tươi đã giảm sâu từ mức 200.000 đồng/cc xuống còn 30.000 - 40.000 đồng/cc. Tương tự, giá gấu sống trưởng thành (khối lượng 90 - 100 kg) giảm từ 40 - 50 triệu đồng/cá thể xuống còn 15 - 20 triệu đồng/cá thể, phản ánh tác động rõ rệt của chính sách kiểm soát đến biên lợi nhuận của các trại nuôi.

Thứ ba, cơ cấu xã hội học của người tiêu dùng chỉ ra 83% thực khách sử dụng sản phẩm từ gấu là nam giới. Phân bổ theo nhóm tuổi cho thấy độ tuổi 45 - 60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 40%, kế tiếp là nhóm 30 - 45 tuổi với 33%, nhóm dưới 30 tuổi chiếm 20% và trên 60 tuổi chiếm 7%. Về phân loại nghề nghiệp, nhóm kinh doanh thương mại chiếm 43%, cán bộ công chức chiếm 37% và các ngành nghề khác chiếm 20%.

Thứ tư, điều kiện chăn nuôi tại các hộ gia đình rất thô sơ, gấu bị giam cầm trong cũi sắt chật hẹp kích thước 1,5m x 2,5m x 1,5m và bị chích hút mật định kỳ 2 - 3 tháng một lần (mỗi lần hút 100 - 150cc). Chế độ khai thác kiệt quệ khiến tuổi thọ của gấu nuôi chỉ kéo dài từ 4 - 5 năm, hoàn toàn không có khả năng sinh sản, dẫn đến việc thợ săn liên tục săn bắt gấu non ngoài tự nhiên để bù đắp số lượng cá thể bị chết.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu độ tuổi - nghề nghiệp của thực khách và bảng ma trận chuỗi cung ứng vận chuyển xuyên biên giới. Đường dây buôn lậu hình thành các trục vận chuyển chính từ Lào qua cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên), Cầu Treo (Nghệ An), Lao Bảo (Quảng Trị) và từ Campuchia qua Tịnh Biên (An Giang), Mộc Bài (Tây Ninh) về hai trung tâm tiêu thụ lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trước khi trung chuyển sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh).

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng khai thác bắt nguồn từ thói quen tiêu dùng dược liệu truyền thống, niềm tin vào tác dụng hoạt huyết giải độc của mật gấu chứa hàm lượng cao acid ursodesoxycholic và tâm lý phô trương địa vị xã hội của nhóm khách hàng có thu nhập cao. Khung xử phạt hành chính giai đoạn 2004 - 2007 (phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng theo Thông tư 63/2004/TT-BNN) chưa đủ sức răn đe so với siêu lợi nhuận từ các phi vụ vận chuyển trái phép. So sánh với Trung Quốc – quốc gia đã nhân giống sinh sản thành công 4.226 cá thể gấu ngựa qua 3 thế hệ F1 - F3 với tỷ lệ sống đạt 75,2% – mô hình nuôi gấu tại Việt Nam hoàn toàn là hoạt động bóc lột cá thể tự nhiên, không đóng góp giá trị bảo tồn quần thể hoang dã.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết triệt để tình trạng khai thác trái phép và bảo tồn hai loài gấu quý hiếm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và tăng nặng chế tài hình sự do Bộ Tư pháp phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện trong giai đoạn 2008 - 2010. Cần loại bỏ ngưỡng định lượng giá trị tối thiểu 5 triệu đồng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 190 Bộ luật Hình sự 2000; đồng thời áp dụng mức phạt tù nghiêm khắc tính trên từng cá thể động vật Nhóm IB bị xâm hại và nâng mức phạt tiền hành chính lên gấp 5 - 10 lần nhằm vô hiệu hóa động cơ trục lợi kinh tế.

Thứ hai, tăng cường kiểm tra giám sát 100% cá thể gấu gắn chip điện tử và triệt phá các mạng lưới buôn lậu do Cục Kiểm lâm chủ trì, phối hợp với lực lượng Cảnh sát Môi trường và Hải quan cửa khẩu. Thực hiện kiểm tra định kỳ 3 tháng một lần tại 1.088 trại nuôi trên toàn quốc; kiên quyết tịch thu các cá thể không có hồ sơ vi mạch theo Quyết định 47/2006/QĐ-BNN và phong tỏa các điểm nóng vận chuyển tại Quảng Ninh, Nghệ An và Điện Biên.

Thứ ba, nâng cấp cơ sở vật chất cứu hộ chuyển vị và chuẩn hóa quy trình chăm sóc thú y do các Trung tâm Cứu hộ Động vật hoang dã (Sóc Sơn, Tam Đảo, Hòn Me) triển khai đến năm 2012. Chuẩn hóa thiết kế chuồng bán hoang dã diện tích tối thiểu 96m2 có sân chơi leo trèo; áp dụng khẩu phần dinh dưỡng đạt chuẩn 2,62 kg/ngày đối với gấu chó và 3,22 kg/ngày đối với gấu ngựa (tỷ lệ quả tươi đạt 57 - 62%); đồng thời thiết lập phác đồ tiêm bắp kháng sinh Cefatoxim (2g/ngày) kết hợp Baytril 2,5% để điều trị dứt điểm bệnh viêm phổi cấp và viêm ruột ỉa chảy.

Thứ tư, triển khai chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi tiêu dùng do Hội Đông y Việt Nam phối hợp cùng các tổ chức bảo tồn (ENV, AAF) thực hiện liên tục hàng năm. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm 70 - 80% nhu cầu sử dụng mật gấu và các sản phẩm từ gấu vào năm 2015 thông qua việc phổ biến các cảnh báo y khoa về độc tố trong mật gấu hút nhân tạo và giới thiệu các bài thuốc thảo dược thay thế an toàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng thực thi pháp luật, bao gồm Cục Kiểm lâm, Chi cục Kiểm lâm tại 57 tỉnh thành và lực lượng Cảnh sát Môi trường. Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng về sơ đồ mạng lưới buôn bán, các thủ đoạn vận chuyển ngụy trang và dữ liệu quản lý vi mạch để xây dựng kế hoạch thanh tra, xử lý vi phạm hiệu quả.

Nhóm các ban quản lý rừng đặc dụng, vườn quốc gia và trung tâm cứu hộ động vật hoang dã (như Trung tâm Cứu hộ Sóc Sơn, Tam Đảo, Cát Tiên). Công trình đóng vai trò như tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chuẩn mực về quy cách xây dựng chuồng trại diện tích 96m2, định mức khẩu phần thức ăn theo loài và phác đồ điều trị các bệnh truyền nhiễm thường gặp ở thú họ Gấu.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi động vật quốc tế (như ENV, Tổ chức Động vật Châu Á - AAF, TRAFFIC). Báo cáo cung cấp các số liệu định lượng chi tiết về chuỗi biến động giá cả thị trường và cơ cấu nhân khẩu học người tiêu dùng phục vụ thiết kế các chiến dịch vận động chính sách và truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý Tài nguyên Rừng, Sinh thái học và Bảo tồn Đa dạng Sinh học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra thị trường lâm sản ngoài gỗ và mô hình tích hợp bảo tồn nguyên vị với bảo tồn chuyển vị.

Câu hỏi thường gặp

Khung pháp lý hiện hành của Việt Nam bảo vệ hai loài gấu ngựa và gấu chó ở cấp độ nào?
Cả hai loài gấu đều được xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, thuộc Phụ lục I Công ước CITES và Nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Pháp luật nghiêm cấm hoàn toàn mọi hành vi săn bắt, giết mổ, nuôi nhốt, vận chuyển và buôn bán vì mục đích thương mại. Mọi vi phạm với mẫu vật có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên đều bị xử lý hình sự theo Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại sao mô hình nuôi gấu lấy mật thương mại không góp phần bảo tồn đàn gấu trong tự nhiên?
Trong thực tế, 100% các trang trại nuôi nhốt tại Việt Nam không nhân giống sinh sản thành công mà toàn bộ 4.012 cá thể đều có nguồn gốc săn bắt trộm từ rừng tự nhiên. Do gấu nuôi chỉ sống được 4 - 5 năm dưới áp lực chích hút mật định kỳ 2 - 3 tháng/lần, người nuôi liên tục thuê thợ săn giết gấu mẹ để bắt gấu con bổ sung, gây suy kiệt nghiêm trọng cấu trúc quần thể hoang dã.

Mục đích và tác động thực tế của chương trình gắn chip điện tử cho gấu nuôi nhốt là gì?
Quy định gắn chip điện tử theo Quyết định 02/2005/QĐ-BNN và Quyết định 47/2006/QĐ-BNN nhằm quản lý cố định số lượng đàn gấu hiện có, khẳng định quyền sở hữu của Nhà nước và ngăn chặn việc bổ sung cá thể mới săn bắt từ tự nhiên. Chính sách này đã tác động mạnh đến thị trường, khiến giá mật gấu giảm mạnh từ 200.000 đồng/cc xuống còn 30.000 - 40.000 đồng/cc.

Gấu nuôi nhốt thường gặp những bệnh lý nguy hiểm nào và phác đồ điều trị y tế ra sao?
Gấu nuôi nhốt thường mắc bệnh viêm phổi cấp tính và viêm ruột ỉa chảy do chuồng trại ẩm thấp và vi khuẩn gây hại. Tại Trung tâm Cứu hộ Sóc Sơn, phác đồ điều trị chuẩn áp dụng tiêm bắp kháng sinh Cefatoxim 2g/ngày kết hợp B-complex và Anagin trong 5 ngày liên tục, hoặc sử dụng kháng sinh Baytril 2,5% liều 1ml/10kg thể trọng kết hợp truyền tĩnh mạch chậm dung dịch Glucose 5%.

Mạng lưới vận chuyển và tiêu thụ gấu lậu tại Việt Nam hoạt động theo những tuyến đường nào?
Nguồn gấu chủ yếu được săn bắt từ Lào và Campuchia rồi vận chuyển qua các cửa khẩu biên giới như Tây Trang, Cầu Treo, Lao Bảo, Mộc Bài. Sau đó, hàng được chuyển theo Quốc lộ 1, Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A về các đầu mối tiêu thụ lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trước khi trung chuyển qua Móng Cái (Quảng Ninh) để xuất lậu sang thị trường nước ngoài.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu với những đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Cung cấp bức tranh tổng thể về quy mô 4.012 cá thể gấu nuôi nhốt tại 1.088 cơ sở thuộc 57 tỉnh thành trên phạm vi cả nước giai đoạn 2005 - 2008.
  • Xác định sự tập trung mật độ cao của 2.141 cá thể gấu tại 10 địa phương trọng điểm, trong đó dẫn đầu là Hà Tây cũ (14,0%) và Nghệ An (13,9%).
  • Bóc tách toàn diện chuỗi cung ứng thương mại, quy luật biến động giá cả và đặc điểm xã hội học của nhóm khách hàng tiêu thụ sản phẩm từ gấu.
  • Khảo sát chuyên sâu kỹ thuật chuồng trại, định lượng khẩu phần dinh dưỡng (2,62 - 3,22 kg/ngày) và bệnh lý thú y tại các cơ sở cứu hộ điển hình.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện thể chế pháp lý, kiểm soát vi mạch điện tử, nâng cấp cứu hộ chuyển vị và truyền thông giảm cầu.

Về mặt khoa học và thực tiễn, công trình là căn cứ quan trọng phục vụ quản lý bền vững tài nguyên động vật hoang dã nguy cấp. Lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2008 - 2015 cần tập trung chuyển đổi toàn bộ gấu nuôi nhốt sang các trung tâm cứu hộ chuyên biệt và chấm dứt hoàn toàn nạn khai thác mật gấu thương mại. Các cơ quan quản lý, cộng đồng khoa học và toàn xã hội hãy cùng chung tay hành động để bảo vệ các loài gấu bản địa khỏi nguy cơ tuyệt chủng.