Khóa luận tốt nghiệp luật học bảo lãnh theo quy định của bộ luật dân sự 2015

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp luật học bảo lãnh theo quy định của bộ luật dân sự 2015, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề luật học.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và bản chất pháp lý của bảo lãnh theo Bộ luật Dân sự 2015

Bảo lãnh là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quan trọng được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định pháp luật, bảo lãnh được hiểu là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Cơ chế bảo lãnh pháp lý có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi các bên trong các quan hệ giao dịch dân sự, thương mại và tín dụng. Đặc biệt, bảo lãnh giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia giao dịch, giảm thiểu rủi ro và tăng cường tin tưởng giữa các chủ thể pháp lý trong các lĩnh vực vay vốn, hợp tác kinh doanh và thực hiện hợp đồng.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm của bảo lãnh

Bảo lãnh là hình thức bảo đảm nghĩa vụ không có tính chất bảo đảm thực tế. Đặc điểm chính của bảo lãnh bao gồm: tính chất phụ thuộc vào quan hệ chính, bên bảo lãnh chịu trách nhiệm thay cho bên được bảo lãnh, và nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh từ thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Khác với các hình thức bảo đảm khác như thế chấp hay cầm cố, bảo lãnh chỉ dựa trên tín dụng cá nhân của bên bảo lãnh.

1.2. Vai trò và ý nghĩa của bảo lãnh trong kinh tế hiện đại

Trong nền kinh tế hiện đại, bảo lãnh pháp lý đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh. Bảo lãnh giúp các bên tham gia giao dịch có thêm bảo vệ pháp lý, giảm rủi ro và tăng cường sự tin tưởng. Đặc biệt trong lĩnh vực vay vốn ngân hàng và hợp tác kinh doanh, bảo lãnh là công cụ không thể thiếu để bảo vệ lợi ích của chủ nợ.

II. Các chủ thể và quyền nghĩa vụ trong quan hệ bảo lãnh

Quan hệ bảo lãnh theo BLDS 2015 liên quan đến ba chủ thể pháp lý chính: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Mỗi chủ thể có quyền và nghĩa vụ riêng biệt, được quy định rõ ràng bởi pháp luật. Bên bảo lãnh là người cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, chịu trách nhiệm pháp lý khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Bên nhận bảo lãnh là người được hưởng lợi từ biện pháp bảo đảm này, có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Hiểu rõ về vai trò của từng chủ thể là cơ sở để áp dụng đúng pháp luật bảo lãnh trong thực tiễn.

2.1. Quyền và trách nhiệm của bên bảo lãnh

Bên bảo lãnhnghĩa vụ chính là thực hiện thanh toán khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ chính. Ngoài ra, bên bảo lãnh còn có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh hoàn lại các khoản tiền đã trả thay cho bên này. Bên bảo lãnh cũng có quyền phòng ngừa để bảo vệ quyền lợi của mình trước khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

2.2. Quyền của bên nhận bảo lãnh

Bên nhận bảo lãnhquyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện cam kết bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ chính. Bên này cũng có quyền nhận thanh toán từ bên bảo lãnh theo nội dung bảo lãnh được thỏa thuận. Quyền của bên nhận bảo lãnh được bảo vệ bằng biện pháp pháp lý thích hợp trong trường hợp bên bảo lãnh từ chối thực hiện nghĩa vụ.

III. Quy định về phạm vi và thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Phạm vi bảo lãnh được xác định rõ ràng trong hợp đồng bảo lãnh hoặc thỏa thuận bảo lãnh. Theo BLDS 2015, phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm nợ gốc, lãi suất, các chi phí liên quan và các khoản tiền khác được xác định trong thỏa thuận bảo lãnh. Thời hạn thực hiện là yếu tố quan trọng, xác định khoảng thời gian bên bảo lãnh phải chịu trách nhiệm bảo lãnh. Nếu thỏa thuận không quy định thời hạn bảo lãnh, thì thời hạn bảo lãnh sẽ được tính từ lúc bên nhận bảo lãnh yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ cho đến khi nghĩa vụ chính không còn bị tranh chấp.

3.1. Xác định phạm vi bảo lãnh trong thực tiễn

Trong thực tiễn, phạm vi bảo lãnh phải được xác định cụ thể và rõ ràng để tránh tranh chấp. Mẫu hợp đồng bảo lãnh tiêu chuẩn nên bao gồm chi tiết nội dung bảo lãnh, bao gồm số tiền bảo lãnh, loại nghĩa vụ được bảo lãnh. Việc xác định chính xác phạm vi bảo lãnh giúp các bên hiểu rõ trách nhiệm pháp lý của mình.

3.2. Thời hạn bảo lãnh và miễn trừ trách nhiệm

Thời hạn bảo lãnh được xác định bằng thỏa thuận hoặc quy định pháp luật. Miễn trừ trách nhiệm bảo lãnh có thể xảy ra khi bên được bảo lãnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chính trước kỳ hạn. Bên bảo lãnh có thể miễn trừ trách nhiệm nếu bên nhận bảo lãnh không tuân thủ điều kiện bảo lãnh được thỏa thuận.

IV. Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo lãnh

Trên thực tiễn, việc áp dụng quy định bảo lãnh của BLDS 2015 còn gặp nhiều bất cập như chưa thống nhất trong cách hiểu và thực hiện, dẫn tới phát sinh tranh chấp bảo lãnh liên quan đến quyền và trách nhiệm của các bên. Một số vấn đề phổ biến bao gồm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không đúng hạn, xác định không rõ phạm vi bảo lãnh, và trách nhiệm bảo lãnh liên đới. Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo lãnh, cần có giải pháp hoàn thiện bao gồm hướng dẫn chi tiết, mẫu hợp đồng chuẩn, và tăng cường nhận thức pháp lý cho các bên liên quan.

4.1. Những bất cập trong áp dụng pháp luật bảo lãnh hiện hành

Bất cập chính trong áp dụng pháp luật bảo lãnh bao gồm: chưa thống nhất trong xác định phạm vi bảo lãnh, hình thức bảo lãnh không rõ ràng, và trách nhiệm bảo lãnh liên đới gây khó khăn. Ngoài ra, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thường chậm trễ do thiếu quy trình chuẩn. Các tranh chấp bảo lãnh từ đó phát sinh làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên nhận bảo lãnh.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả

Để khắc phục bất cập, cần: (1) Ban hành hướng dẫn chi tiết từ cơ quan pháp luật về áp dụng BLDS 2015; (2) Xây dựng mẫu hợp đồng chuẩn cho các loại bảo lãnh khác nhau; (3) Tăng cường đào tạo cho các bên tham gia giao dịch; (4) Hoàn thiện quy trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để đảm bảo hiệu quả bảo lãnh.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số van dé ly luận chung về bao lãnh Chương 2: Quy định về bảo lãnh trong bộ luật dân sự 2015 Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật của bộ luật dân sự 2015 về bảo lãnh và một số giải pháp hoàn thiện NOI DUNG CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE BAO LANH 1. Khai niệm bao lãnh Trong thời đại kinh tế phát triển, song hành cùng sự ra đời của các quan hệ dân sự, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng được ra đời nhằm đảm bảo sự minh bạch trong các quan hệ dân sự. Có thể xem các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là các phương án, giải pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự một cách chắc chắn và an toàn hơn. Hiện nay, BLDS 2015 quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: Cam có tài sản, Thế chấp tài sản, Đặt cọc, Ký cược, Ký quỹ, Bảo lưu quyền sở hữu, Bảo lãnh, Tín chấp, Cầm giữ tài sản.

Trong đó, bảo lãnh là một trong số những biện pháp pho biến hơn cả, bởi có sự tham gia của cá nhân, tổ chức nhằm đảm bảo cho quan hệ dân sự được bảo lãnh mà có thé không cần dùng đến tài sản của người cần được bao lãnh. Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm truyền thống, từ này có nguồn gốc nghĩa Hán Việt mang nghĩa: “Bảo lãnh (bảo lĩnh) là gánh vác lấy trách nhiệm”. Hay có một cách định nghĩa thuần việt rõ ràng hơn về bảo lãnh trong Từ điển Tiếng Việt như: “Bao lãnh là bảo đảm cho (một cá nhân hoặc tô chức) làm một việc hoặc hưởng một quyển lợi có gắn với nghĩa vụ, chịu trách nhiệm nếu (cá nhân hoặc tổ chức ấy) sau này không thực hiện nghĩa vự”2, Bảo lãnh được hiểu là hành động đảm bảo rằng một người khác sẽ thực hiện nghĩa vụ nhất định và sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện. Dựa trên ý nghĩa này, có thể hiểu rằng bảo lãnh là một phương thức các bên sử dụng để cam kết thực hiện nghĩa vụ.

Thông qua cam kết của bên bảo lãnh, bên này phải chịu trách nhiệm trước bên nhận bảo lãnh nếu nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thỏa thuận. Bảo lãnh theo định nghĩa của từ điển, có thé vừa là hành vi pháp lý ! Đào Duy Anh (2000), Ti điển Hán — Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội ? Từ điển Tiéng Việt, Soha, http://tratu.vn/dict/vn_vn/B%EI%BA%A30 1%C3%A3nh 7 mang tính đối vật, vừa là hành vi mang tính đối nhân. Bởi hành vi này vừa có thé ding tài sản của mình để cam kết đảm báo, vừa có thé ding sự uy tín của cá nhân dé dam bảo. Tìm hiểu về định nghĩa của bảo lãnh, có thể thấy khái niệm bảo lãnh đã được xuất hiện rất lâu đời từ thời La Mã cô đại.

Theo luật La Mã, “Báo lãnh là việc người bảo lãnh đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh vi ly do nào đó mà không thực hiện”. Tư tưởng này đã dat nền móng cho các học thuyết về bảo lãnh về khái niệm bảo lãnh trong pháp luật của các nước theo hệ thống Common Law và Civil Law sau này. Ở thời kỳ sau, định nghĩa về bảo lãnh xuất hiện trong các quy định ở bộ luật cổ đại và cận đại, như quy định về bảo lãnh trong Quốc triều Hình luật không nêu rõ định nghĩa nhưng đã quy định hình phạt cho một dạng của bảo lãnh, hay ở thời kỳ cận đại, bảo lãnh được định nghĩa trong một số bộ luật do Pháp đặt ra trong thời kỳ đô hộ “Bao lĩnh là dung dam bảo nhận hộ, tiếng nôm thường gọi là bau chi”, Về định nghĩa pháp ly, bảo lãnh được quan niệm là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, quy định tại điều 335 BLDS 2015 như sau: Bao lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyển (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vu. Qua những đánh giá và phân tích về khái niệm trên, có thể rút ra kết luận rằng, bảo lãnh là việc người nhận bảo lãnh thực hiện thay nghĩa vụ theo thỏa thuận phải thực hiện nghĩa vụ với người có quyền nếu người có nghĩa vụ khi đến hạn không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện 3 Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt Nam, nls? 4 Bộ luật dân sự Bắc Kỳ có tên gọi chính thức là “Bộ dân luật thị hành tại các toà Nam án Bắc Ky”, được ban hành ngày 30.1931 và có hiệu lực thi hành tại Bac Ky từ ngày 01.

> Điều 335 BLDS 2015 § không day đủ nghĩa vụ. Dac điểm của bảo lãnh Với tính chất là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bảo lãnh có đầy đủ những đặc điểm chung của một biện pháp bảo đảm nói chung như sau: Thứ nhất, bảo lãnh chi là một biện pháp dy phòng nhằm bé sung cho nghĩa vụ chính. Biện pháp bảo lãnh chỉ có chức năng và nhiệm vụ xảy ra khi bên được bảo lãnh không thé thực hiện được nghĩa vụ của mình mà phải cần đến sự hỗ trợ từ bên bảo lãnh. Người bảo lãnh khi cam kết thực hiện nghĩa vụ băng cách tự nguyện đứng ra bảo lãnh sẽ trở thành người cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh.

Thứ hai, biện pháp bảo lãnh cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác, đó là nhằm nâng cao trách nhiệm nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Các biện pháp này nhằm ràng buộc các bên trong việc giao kết hợp đồng hoặc thực hiện một công việc, nghĩa vụ nào đó. Mỗi biện pháp bảo đảm đều có những ưu, nhược điểm riêng. Bởi có tính chất khác nhau, nên chức năng của mỗi biện pháp là không hoàn toàn giống nhau.

Bảo lãnh cũng có những ưu và nhược điểm riêng mà tác giả sẽ phân tích ở bài viết này. Nhưng ngoài những đặc điểm chung của các biện pháp bao đảm thực hiện nghĩa vụ, bảo lãnh cũng có những đặc điểm riêng nôi bật của một biện pháp bảo đảm duy nhất có sự xuất hiện của bên thứ ba. Ngoài ra, bảo lãnh cũng mang những đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, bảo lãnh là biện pháp mang tỉnh đối nhân (bên bảo lãnh có nghĩa vụ đối với bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh). Có hai cách nhận định về các biện pháp đảm bảo, đó là tính đối vật (vật quyền) hay đối nhân (trái quyền).

Hai tiêu chí này dựa trên tiêu chí việc có hay không có tài sản dam bảo dé nhận định. Khi thực hiện các biện pháp bảo đảm khác như cầm có, thế chấp. đa Š Viên Thế Giang, 2017, “Bat cập trong các quy định vé chọn biện pháp bảo đám thực hiện nghĩa vụ”, Tap chi Luật học số 04/2017, tr3-14 9 phần bên nhận bảo đảm có quyền đối với tài sản đảm bảo là vật (thế chấp, cầm cố vật có giá tri như nha đất, xe cộ.) Quyền đối vật trong các biện pháp bảo đảm khác được gọi là vật quyền bảo đảm bao gồm quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm, quyền truy đòi tài sản bảo đảm trước sự chiếm hữu của người thứ ba và thé hiện rõ nhất của tính đối vật là bên nhận bao dam được quyền xử lý tài sản bảo đảm nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ”. Còn đối với bao lãnh, biện pháp này lại mang tính đối nhân vì đôi khi không có tài sản đảm bảo, mà lại là sự cam kết của bên thứ ba về việc “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không dung nghĩa vụ”.

Tính chất đối nhân của biện pháp bảo lãnh thể hiện ở chỗ đối tượng dùng để bảo đảm là “công việc”. Nếu như các biện pháp khác như cầm có, thế chấp, bên có quyền (bên nhận cầm có, thế chấp) được bên có nghĩa vụ (bên cầm có, thé chap) chuyên giao quyền chiếm hữu, quản lý tài sản dam bảo là một tài sản cụ thé. Thì trong quan hệ bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh không có bat kỳ quyền nào đối với tài sản của bên bảo lãnh. Trong quan hệ bảo lãnh không hề xuất hiện tài sản bảo đảm.

Mà chỉ có uy tín, cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không thể hoàn thành nghĩa vụ đó. Vì vậy, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân. Trong hệ thống các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đang được pháp luật ghi nhận, chỉ có biện pháp bảo lãnh và biện pháp tín chấp là mang tính chất đối nhân. Tuy nhiên, biện pháp tín chấp mang tính chất đặc biệt bởi nó mang tính chất tương trợ xã hội đối với các cá nhân, hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, trong đó, bên bảo đảm phải là các tổ chức chính trị - xã hội.

Biện pháp tín chấp được áp dụng trong thực tiễn chủ yếu là hoạt động cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo. Vì vậy, chỉ có bảo lãnh có tính chât là sự bảo hộ của cá nhân mà không hê 7 Nguyễn Hái An, 2015, “Các quy định mới về các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự 2015 và tác động đến lợi ích của các đoanh nghiệp”, Tạp chí Khoa học pháp Ij, sỗ 2/2017, tr67 10 có tài sản đảm bảo nao. Thứ hai, nghĩa vụ bảo lãnh là nghĩa vụ thứ cấp, phát sinh theo nghĩa vu được bao lãnh. Nghĩa vụ được bảo lãnh sẽ không tồn tại nếu nghĩa vụ được bảo lãnh đã chấm dứt hoặc không tôn tại nữa.

Ví dụ, trong thời gian quy định, bên được bảo lãnh đã hoàn thành xong mọi nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh, thì nghĩa vụ của bên bảo lãnh sẽ mặc nhiên chấm dứt. Thứ bậc sắp xếp của nghĩa vụ của bên bảo lãnh xếp sau bên được bảo lãnh. Ví dụ, A đứng ra bảo lãnh cho B mua xe máy trả góp ở cửa hang X trong thời hạn 01 năm. Tuy nhiên, trong 6 tháng B đã trả được hết số tiền cần trả để mua xe, vậy A sẽ không còn nghĩa vụ gì với cửa hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ