Tổng quan luận án
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm là vấn đề pháp lý phức tạp, chứa đựng sự xung đột trực tiếp giữa quyền tài sản độc quyền của chủ sở hữu sáng chế và quyền con người trong việc tiếp cận các phương tiện chăm sóc sức khỏe, bảo vệ tính mạng. Dược phẩm đóng vai trò thiết yếu trong việc phòng và chữa bệnh cho cộng đồng. Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948 đã ghi nhận quyền được bảo vệ sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, trong đó quyền tiếp cận dược phẩm là thành tố cấu thành trực tiếp. Mặt khác, quyền sở hữu trí tuệ cũng là quyền cơ bản cần được tôn trọng và bảo hộ nhằm bù đắp chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) và tạo động lực tài chính cho các nhà sáng chế.
Khi các tập đoàn dược phẩm nắm giữ bằng độc quyền sáng chế, họ có quyền ngăn cấm chủ thể khác khai thác và định giá dược phẩm ở mức cao. Thực tế này tạo ra rào cản lớn đối với người bệnh, đặc biệt là bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo cần điều trị lâu dài (như HIV/AIDS, ung thư, viêm gan, tim mạch, bệnh thận mãn tính), có thể dẫn đến nguy cơ đe dọa tính mạng hoặc đẩy người bệnh vào tình trạng nghèo đói. Đối với Việt Nam — một quốc gia đang phát triển, chịu gánh nặng bệnh tật đa dạng và là một trong mười quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu — nhu cầu sử dụng thuốc điều trị là rất lớn nhưng khả năng chi trả của người dân còn hạn chế. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và thực thi các cam kết quốc tế thế hệ mới, việc cân bằng giữa nghĩa vụ bảo hộ sáng chế dược phẩm theo chuẩn mực cao với việc bảo đảm an sinh xã hội, y tế công cộng theo Quyết định số 122/QĐ-TT ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ và định hướng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là yêu cầu cấp bách.
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Thị Bích Thủy với đề tài "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" (Chuyên ngành: Luật quốc tế, Mã số: 9 38 01 08, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Phước Hiệp và TS. Trần Minh Ngọc) được thực hiện nhằm giải quyết bài toán pháp lý nói trên.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm ở Việt Nam hiện nay; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi, phát huy giá trị của nhóm đối tượng này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về sáng chế liên quan đến dược phẩm với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thuộc quyền sở hữu trí tuệ (khái niệm, đặc điểm, cơ chế bảo hộ, phân biệt với các đối tượng liên quan).
- Tìm hiểu có hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với các điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm.
- Trên cơ sở lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam bảo đảm tính tương thích với các cam kết quốc tế, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận thuốc của xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia trên thế giới và các điều ước quốc tế về bảo hộ sáng chế liên quan đến dược phẩm (xác lập, duy trì, thực thi và hạn chế quyền sở hữu trí tuệ).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian và nội dung: Các lý thuyết, khái niệm trọng tâm; hệ thống chuẩn mực quốc tế (Công ước Paris 1883, Hiệp ước PCT 1970, Hiệp định TRIPS 1995, Tuyên bố Doha 2001, các hiệp định tự do thương mại như CPTPP, EVFTA) và pháp luật các quốc gia tiêu biểu (Hoa Kỳ, các nước Châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Brazil, Nam Phi...);
- Về thời gian: Lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam từ năm 1981 (bắt đầu từ Điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế năm 1981, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009) đến thời điểm nghiên cứu; dữ liệu thống kê đăng ký, cấp bằng từ năm 1981 đến hết năm 2018 và thực tiễn xét xử đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quyền sở hữu trí tuệ đối với dược phẩm.
Các công trình nghiên cứu quốc tế
- Duncan Bucknell (2011), Pharmaceutical, biotechnology and chemical inventions, Oxford University Press: Tập hợp và phân tích toàn diện hệ thống quy định pháp luật về sáng chế dược phẩm, công nghệ sinh học và hóa học tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản từ xác lập quyền đến xử lý vi phạm.
- Monirul Azam (2011), Intellectual Property and Public Health in the Developing World, Cambridge University: Phân tích mối quan hệ giữa sở hữu trí tuệ và y tế công cộng từ góc độ quốc gia đang phát triển (Bangladesh), nghiên cứu kinh nghiệm vận dụng linh hoạt TRIPS của Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nam Phi.
- Sarah Joseph (2011), Blame it on WTO – A human right critique, Oxford University Press: Đánh giá tác động pháp lý từ các chính sách của WTO đối với quyền con người, trong đó Chương 7 tập trung vào Hiệp định TRIPS và quyền tiếp cận thuốc giá rẻ.
- Holger Hestermeyer (2007), Human rights and the WTO – The case of Patent and Access to Medicines, Oxford University Press: Làm rõ xung đột giữa tính hợp lý của hệ thống bảo hộ sáng chế và quyền tiếp cận thuốc; khẳng định việc áp dụng linh hoạt chuẩn mực TRIPS giúp bảo đảm quyền bảo vệ sức khỏe.
- Carlos M. Correa, Intellectual Property and international trade the TRIPS Agreement: Phân tích các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu của TRIPS và mối quan hệ giữa TRIPS với sức khỏe cộng đồng.
- Frederick M. Van Puymbroeck (2005), Compulsory Licensing for Public Health, The World Bank: Hướng dẫn văn kiện mẫu thực thi Đoạn 6 Tuyên bố Doha về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.
- Frederick M. Abbott (2015), WTO TRIPS Agreement and Its Implications for Access to Medicines in Developing Countries, Florida State University: Khuyến nghị các nước đang phát triển tận dụng cơ chế nhập khẩu song song và cấp phép bắt buộc để hạ giá thuốc.
- Duncan Matthews (2011), Intellectual Property Rights, Human Rights and the Right to Health: Phân tích mâu thuẫn quyền sở hữu trí tuệ và quyền sức khỏe qua thực tiễn ứng phó dịch HIV/AIDS tại Brazil và Nam Phi.
- Alberto do Amaral Junior (2005), Compulsory Licensing and Access to Medicine in Developing Countries: Đánh giá cấp phép bắt buộc như một công cụ chính sách công thiết yếu.
- Ellen 't Hoen, The Global Politics of Pharmaceutical monopoly power: Nghiên cứu tác động của độc quyền sáng chế dược phẩm và quá trình hình thành Tuyên bố Doha.
- W. Lesser (2001), The effects of TRIPS - mandated intellectual property rights on economic activities in developing countries, Cornell University: Đo lường tác động kinh tế của TRIPS đối với hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.
- Laurence R. Helfer (2003), Human rights and intellectual property: conflict or coexistence?, Tạp chí The Minnesota Journal of Law, Science & Technology: Đánh giá mối quan hệ xung đột hay cùng tồn tại giữa nhân quyền và quyền sở hữu trí tuệ.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Lê Thị Bích Thủy (2012), Luận văn thạc sĩ Bảo hộ sáng chế liên quan đến dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS và pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Đặng Thị Vân Anh (2013), Luận văn thạc sĩ Bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Đào Tiến Quân (2014), Luận văn thạc sĩ Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS.
- Lê Viết Sỹ (2018), Luận văn thạc sĩ Bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm theo pháp luật Việt Nam.
- Nguyễn Hồng Bắc (2002), Đề tài cấp cơ sở Những nội dung cơ bản của Hiệp định TRIPS và mức độ tương thích của các chế định có liên quan của Việt Nam.
- Lê Thị Nam Giang (2010), Luận án tiến sĩ Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2014), Luận văn thạc sĩ Quyền sử dụng sáng chế và những giới hạn của quyền sử dụng sáng chế theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
- Lê Thị Bích Thọ và Nguyễn Thanh Tú (2004), Nhập khẩu song song dược phẩm: Một số vấn đề pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.
- Nguyễn Thanh Tú (2010), Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS: kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia.
- Đỗ Thị Minh Thủy, Bàn về ngoại lệ trong bảo hộ sáng chế dược và vấn đề cân bằng lợi ích giữa các chủ thể liên quan, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Qua tổng thuật, tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học:
- Chưa có công trình nào đưa ra định nghĩa chuẩn xác với nội hàm và ngoại diên đầy đủ về "sáng chế liên quan đến dược phẩm" (SCLQĐDP) và các đặc trưng pháp lý đặc thù của nhóm đối tượng này.
- Chưa có sự phân tích chuyên sâu về cơ sở lý luận kết hợp giữa bảo hộ quyền tài sản trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA).
- Thiếu một công trình nghiên cứu độc lập, toàn diện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1981 đến nay gắn với đánh giá thực chứng về tình hình nộp đơn, cấp văn bằng và thực thi bảo hộ sáng chế dược phẩm qua các số liệu và án lệ cụ thể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sở hữu trí tuệ và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Về mặt học thuật, luận án vận dụng:
- Lý thuyết về bản chất của độc quyền sáng chế: Sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế (khuyến khích đổi mới sáng tạo, bù đắp chi phí R&D, công khai thông tin kỹ thuật) và lợi ích xã hội (bảo đảm sức khỏe nhân dân, tiếp cận dược phẩm giá hợp lý).
- Khái niệm sáng chế theo chuẩn mực quốc tế và luật định: WIPO, Điều 2 Công ước Paris 1883, Điều 2 Hiệp ước PCT 1970, Điều 27.1 Hiệp định TRIPS 1995 (yêu cầu tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp), và Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
- Khái niệm dược phẩm và phân loại dược phẩm: Quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Dược 2016, định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên đoàn các Nhà sản xuất và Hiệp hội Dược phẩm Quốc tế (IFPMA), Đạo luật Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm Hoa Kỳ (FD&C Act), Sắc lệnh PPO của Trung Quốc.
- Khái niệm SCLQĐDP: Các đối tượng được cấp bằng độc quyền sáng chế dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đồng (phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý) bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý định tính kết hợp phân tích dữ liệu thực tế:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật thực định của Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế về xác lập, thực thi quyền sáng chế.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế (TRIPS, Paris, CPTPP, EVFTA) và pháp luật các quốc gia (Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ, Mexico, Indonesia, Brazil, Nam Phi) để tìm ra điểm tương đồng, khác biệt và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê và mô hình hóa: Tổng hợp số liệu nộp đơn và cấp văn bằng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Việt Nam từ năm 1981 đến năm 2018; mô hình hóa quy trình thẩm định đơn sáng chế dược phẩm; tổng hợp các vụ việc tranh chấp, bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế và bản án thực tế.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về sở hữu công nghiệp và dược phẩm từ năm 1981 đến 2020.
- Các điều ước quốc tế đa phương và song phương: Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, Tuyên bố Doha 2001, CPTPP, EVFTA.
- Báo cáo và tài liệu từ WIPO, WHO, WTO, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP), Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), Cơ quan Sáng chế Châu Âu (EPO).
- Dữ liệu thực tiễn và án lệ: Bản án số 41/2020/DS-PT ngày 28/7/2020 của TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm; các hồ sơ thực tế về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế tại Việt Nam và Ấn Độ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam liên quan đến đề tài Luận án
Chương này dành cho việc tổng kết toàn diện các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả nhóm các nghiên cứu theo các nhóm vấn đề: khái niệm SCLQĐDP; đặc trưng của SCLQĐDP; cơ sở lý luận bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với SCLQĐDP; cơ sở hạn chế quyền của chủ sở hữu vì sức khỏe cộng đồng; và thực tiễn cân bằng cán cân lợi ích.
Chương 1 khẳng định tính tất yếu của việc tiếp tục nghiên cứu đề tài ở cấp độ luận án tiến sĩ, đồng thời xác lập câu hỏi nghiên cứu: Làm thế nào để hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm thực thi đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về bảo hộ sáng chế dược phẩm nhưng vẫn bảo đảm quyền tiếp cận thuốc cho người dân với chi phí hợp lý?
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và cơ sở lý luận của cơ chế bảo hộ:
- Khái niệm và đặc trưng: Luận án làm rõ sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình giải quyết một vấn đề kỹ thuật dựa trên ứng dụng quy luật tự nhiên. SCLQĐDP mang các đặc trưng riêng biệt: chi phí đầu tư R&D lớn và rủi ro cao; thời gian thẩm định kỹ thuật và thử nghiệm lâm sàng kéo dài khiến thời gian khai thác thương mại thực tế của bằng độc quyền bị rút ngắn; tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe con người và an sinh xã hội.
- Các dạng yêu cầu bảo hộ điển hình:
- Dạng sản phẩm: Hợp chất hóa học mới, dạng mới của hợp chất đã biết (muối, este, đồng phân, chất đa hình tinh thể), tổ hợp hoạt chất, dạng bào chế đặc biệt (giải phóng biến đổi, kéo dài), vắc xin, sinh phẩm.
- Dạng quy trình: Quy trình điều chế hợp chất, quy trình bào chế dược phẩm, quy trình chiết xuất hoạt chất từ dược liệu tự nhiên.
- Bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dược phẩm (Pharmaceutical test data): Làm rõ cơ chế bảo hộ chống lại việc sử dụng thương mại không lành mạnh đối với dữ liệu thử nghiệm lâm sàng và tiền lâm sàng nộp cho cơ quan quản lý dược.
- Cơ sở lý luận và pháp lý: Phân tích các luận thuyết về quyền sở hữu trí tuệ, lý do kinh tế - xã hội của việc xác lập độc quyền sáng chế, cơ sở hạn chế quyền chủ sở hữu (ngoại lệ Bolar, cấp phép bắt buộc - compulsory licensing, nhập khẩu song song) và mối tương tác biện chứng giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
| Tiêu chí phân loại SCLQĐDP |
Các dạng thể hiện cụ thể |
Ví dụ minh họa trong văn bản |
| Sản phẩm (Product) |
- Hợp chất hóa học mới - Dạng mới của hợp chất đã biết (muối, đồng phân, chất đa hình) - Tổ hợp các hoạt chất - Dạng bào chế đặc biệt, dịch chiết |
- Thuốc kháng sinh Penicilin điều trị nhiễm trùng. - Thiết bị cơ học MegaVac hút cục máu đông trong mạch máu của Capture Vascular Inc. |
| Quy trình (Process) |
- Quy trình tổng hợp/điều chế hoạt chất hóa học - Quy trình bào chế dược phẩm - Quy trình chiết xuất hoạt chất dược liệu |
- Phương pháp phẫu thuật cấy ghép tim người (thực hiện bởi bác sĩ Christiaan Neethling Barnard năm 1967). |
Chương 3: Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm
Chương 3 khảo cứu sâu các quy định quốc tế và luật pháp các nước:
- Nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế: Phân tích nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) trong Công ước Paris 1883; các tiêu chuẩn bảo hộ theo Điều 27 Hiệp định TRIPS (không phân biệt đối xử về lĩnh vực công nghệ); các cam kết mở rộng tiêu chuẩn trong CPTPP và EVFTA.
- Phạm vi, điều kiện và thời hạn bảo hộ: Điều kiện về tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp; vấn đề gia hạn thời hạn bảo hộ sáng chế (Patent Term Extension/Restoration) để bù đắp sự chậm trễ trong cấp phép lưu hành dược phẩm.
- Quyền, nghĩa vụ và giới hạn quyền: Quyền ngăn cấm sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu; nghĩa vụ bộc lộ sáng chế đầy đủ; các trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng (Điều 31 TRIPS và Đoạn 6 Tuyên bố Doha); cơ chế ngoại lệ Bolar cho phép nhà sản xuất thuốc generic thử nghiệm trước khi bằng sáng chế hết hạn.
- Kinh nghiệm các quốc gia: Phân tích mô hình bảo hộ tiêu chuẩn cao của Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản đối chiếu với cơ chế linh hoạt, bảo vệ sức khỏe cộng đồng của Ấn Độ (chính sách hạn chế cấp bằng cho dạng cải tiến không tăng hiệu quả điều trị), Brazil, Indonesia và Mexico.
Chương 4: Pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm và một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương này tập trung vào thực trạng và phương hướng hoàn thiện tại Việt Nam:
- Lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam:
- Giai đoạn 1981 - 1986: Kinh tế kế hoạch hóa tập trung, áp dụng Điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế năm 1981.
- Giai đoạn 1987 - 2005: Đổi mới kinh tế, ban hành Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 và Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Giai đoạn 2005 đến nay: Hội nhập toàn diện với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật Dược năm 2016 và các văn bản hướng dẫn (Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN).
- Thực tiễn xác lập và thực thi quyền: Khảo sát tình hình tiếp nhận đơn, thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ SCLQĐDP tại Cục Sở hữu trí tuệ giai đoạn 1981 - 2018 (Phụ lục 13); đánh giá tình hình xâm phạm quyền, tranh chấp sáng chế dược phẩm tại Tòa án (Bản án số 41/2020/DS-PT) và các trường hợp đề nghị cấp phép bắt buộc (Phụ lục 3).
- Đề xuất, kiến nghị: Đưa ra định hướng chung và các giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn thẩm định tính mới và trình độ sáng tạo đối với các dạng sáng chế dược phẩm phái sinh;
- Hoàn thiện cơ chế bảo hộ dữ liệu thử nghiệm dược phẩm hài hòa với cam kết EVFTA/CPTPP;
- Cụ thể hóa quy định và quy trình thủ tục thực thi quyền bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế dược phẩm vì lý do y tế công cộng;
- Nâng cao năng lực chuyên môn của giám định viên sở hữu trí tuệ và thẩm phán trong xử lý tranh chấp sáng chế dược phẩm phức tạp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm khoa học về "sáng chế liên quan đến dược phẩm", làm rõ nội hàm, ngoại diên và phân loại các dạng yêu cầu bảo hộ (sản phẩm, quy trình, dạng phái sinh, dữ liệu thử nghiệm).
- Làm rõ các đặc trưng pháp lý - kinh tế riêng biệt của sáng chế dược phẩm, từ đó luận giải cơ sở khoa học cho việc thiết lập cơ chế cân bằng giữa bảo hộ quyền tài sản độc quyền của chủ sở hữu và việc thực thi các quyền con người về bảo vệ sức khỏe, tiếp cận thuốc.
- Phân tích có hệ thống các điều ước quốc tế (TRIPS, Paris, Doha, CPTPP, EVFTA) và kinh nghiệm lập pháp của các nước phát triển lẫn đang phát triển, làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa luật quốc tế và luật quốc gia.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Hệ thống hóa toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về sáng chế dược phẩm từ năm 1981 đến nay (thể hiện chi tiết tại Phụ lục 1).
- Cung cấp bức tranh thực chứng về tình hình nộp đơn, cấp văn bằng bảo hộ SCLQĐDP tại Việt Nam qua số liệu thống kê giai đoạn 1981 - 2018 và phân tích các vụ việc thực thi, tranh chấp quyền sáng chế tại Tòa án.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và thực thi cụ thể nhằm sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản liên quan, giúp Việt Nam tận dụng tối đa các linh hoạt của Hiệp định TRIPS để bảo vệ sức khỏe nhân dân mà không vi phạm cam kết quốc tế.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy luật sở hữu trí tuệ, đồng thời hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý dược và doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu đối tượng sáng chế và dữ liệu thử nghiệm trong lĩnh vực dược phẩm; nguồn dữ liệu thống kê nộp đơn và cấp bằng tại cơ quan sở hữu trí tuệ được giới hạn từ năm 1981 đến hết năm 2018; các vụ việc thực thi và bản án được cập nhật đến năm 2020.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tế của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi và quá trình kết thúc lộ trình chuyển tiếp của các hiệp định CPTPP, EVFTA đối với ngành công nghiệp dược phẩm trong nước; nghiên cứu cơ chế liên kết sáng chế với đăng ký lưu hành thuốc (patent linkage) và bảo hộ sáng chế công nghệ sinh học, liệu pháp gen trong y dược hiện đại.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách (Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế): Tham khảo các luận cứ khoa học để sửa đổi, hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Dược và các văn bản hướng dẫn thi hành về thẩm định sáng chế dược, cấp phép bắt buộc và bảo hộ dữ liệu thử nghiệm.
- Cơ quan thực thi và tư pháp (Cục Sở hữu trí tuệ, Tòa án, Thanh tra): Tham khảo cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế trong việc thẩm định đơn, giải quyết khiếu nại, xử lý hành vi xâm phạm quyền sáng chế dược phẩm.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Tài liệu chuyên khảo phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các môn học: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại quốc tế, Luật Quốc tế tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
- Doanh nghiệp dược phẩm và đơn vị tư vấn sở hữu trí tuệ: Giúp các doanh nghiệp sản xuất thuốc generic và các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp nắm vững phạm vi bảo hộ, thời hạn bảo hộ và các ngoại lệ để định hướng nghiên cứu, phát triển sản phẩm hợp pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "sáng chế liên quan đến dược phẩm" như thế nào?
Dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Dược 2016, luận án định nghĩa: Sáng chế liên quan đến dược phẩm là các đối tượng có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế bao gồm sản phẩm, quy trình, phương pháp hay bất kỳ đối tượng nào khác được dùng để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng (phòng bệnh, chẩn đoán và chữa bệnh cho người hoặc động vật) bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
2. Sáng chế dược phẩm có những đặc trưng khác biệt nào so với các sáng chế kỹ thuật khác?
Sáng chế dược phẩm có các đặc trưng cơ bản: chi phí đầu tư cho R&D lớn và tỷ lệ rủi ro cao; thời gian thử nghiệm lâm sàng và hoàn tất thủ tục đăng ký lưu hành kéo dài làm rút ngắn thời gian khai thác thương mại thực tế của bằng độc quyền; và mang tính lợi ích công cộng sâu sắc do liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe con người.
3. Những dạng yêu cầu bảo hộ chủ yếu đối với sáng chế dược phẩm gồm những gì?
Gồm 02 nhóm chính:
- Dạng sản phẩm: Hợp chất hóa học mới, dạng mới của hợp chất đã biết (muối, este, đồng phân, chất đa hình tinh thể), tổ hợp hoạt chất, dạng bào chế đặc biệt (giải phóng kéo dài, giải phóng có kiểm soát), dịch chiết dược liệu.
- Dạng quy trình: Quy trình điều chế hợp chất hóa học, quy trình bào chế dược phẩm, quy trình chiết xuất hoạt chất từ dược liệu.
4. Hiệp định TRIPS và Tuyên bố Doha quy định những cơ chế linh hoạt nào để bảo vệ sức khỏe cộng đồng?
Các cơ chế linh hoạt gồm có:
- Cấp phép bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (Compulsory Licensing) theo Điều 31 Hiệp định TRIPS và Quyết định thực thi Đoạn 6 Tuyên bố Doha;
- Cho phép nhập khẩu song song (Parallel Imports) dược phẩm chính hãng từ thị trường có giá bán thấp hơn;
- Áp dụng ngoại lệ Bolar (sử dụng sáng chế để thử nghiệm lấy dữ liệu đăng ký lưu hành thuốc generic trước khi bằng sáng chế hết hạn).
5. Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế dược phẩm trải qua các giai đoạn nào?
Trải qua 03 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1981 - 1986: Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, áp dụng Điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế năm 1981.
- Giai đoạn 1987 - 2005: Thời kỳ đổi mới và bước đầu hội nhập, đánh dấu bằng Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 và Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Giai đoạn 2005 đến nay: Thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và việc tham gia các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của Lê Thị Bích Thủy đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất pháp lý của đối tượng nghiên cứu, phân tích các chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn xác lập, thực thi quyền tại Việt Nam từ năm 1981 đến nay. Các kết quả nghiên cứu và giải pháp lập pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ, hỗ trợ giải quyết hài hòa bài toán giữa thực thi cam kết hội nhập quốc tế và bảo đảm an sinh y tế cộng đồng.