Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền của ngƣời nộp thuế và bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng. - Chương 3: Định hƣớng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế và giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ TRONG KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.
Khái niệm quyền của ngƣời nộp thuế và bảo đảm quyền của ngƣời nộp thuế NNT GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT. NNT GTGT đa dạng với dấu hiệu là tham gia hoạt động mua, bán hàng hóa và dịch vụ. NNT là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế. Cũng nhƣ các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành NNT trong quan hệ pháp luật thuế đòi hỏi phải thỏa mãn đƣợc những điều kiện mà pháp luật thuế quy định.
Theo quan niệm truyền thống, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính đƣợc thiết lập giữa CQNN có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức khác trong xã hội đƣợc điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế và đƣợc điều chỉnh bởi phƣơng pháp mệnh lệnh quyền uy. NNT ở vào một vị thế yếu trong quan hệ pháp luật thuế, dù rằng trên thực tế thì công sức và đóng góp của họ cho Nhà nƣớc là không hề nhỏ chút nào. Mặc dù không có khái niệm chính xác về NNT, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu NNT là cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển giao một phần thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh để đóng vào NSNN nhằm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. Khái niệm quyền của người nộp thuế Theo quan điểm của Mác, quyền của con ngƣời là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ.
Điều 15 Hiến pháp Việt Nam 2013 cũng khẳng định quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Do vậy, trong quan hệ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật thuế, NNT cũng phải có một số quyền nhất định. Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho việc xác lập quyền của NNT có ý nghĩa trong việc bảo đảm thu thuế cho NSNN, bảo vệ lợi ích chính đáng của NNT [23, tr.8] Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định công dân có nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật. Đến Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tiếp tục ghi nhận mọi ngƣời có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định.
Ngoài ra, các Luật thuế do Quốc hội ban hành đã cụ thể hóa các nghĩa vụ đóng thuế của các tổ chức và cá nhân. Vì thế, khi thiết lập quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tƣ cách là NNT thƣờng chỉ đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ phải thực hiện nghĩa vụ mà có rất ít quyền. Vì vậy, không chỉ NNT cảm thấy mình bị cƣỡng bức, bị tƣớc bỏ một phần lợi ích vật chất nên hệ quả là họ sẽ tìm cách để trốn tránh nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, NNT có thể còn bị các cơ quan, cán bộ công quyền nhũng nhiễu khi thực thi quyền hành thu thuế mà nhà nƣớc trao.
Luật Quản lý thuế khẳng định nguyên tắc nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân; quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NNT. Cơ quan thuế thay mặt Nhà nƣớc thực hiện quyền thu thuế. Trong hoạt động của mình, cán bộ thuế có trách nhiệm xác định chính xác số thuế phải nộp theo các trình tự thủ tục luật định. NNT đƣợc trao quyền tự định đoạt việc đóng thuế thông qua chấp hành chế độ tự kê khai, xác định số thuế phải nộp.
Quyề n của NNT cũng mang nhƣ̃ng đă ̣c điể m chung của quyề n chủ thể trong quan hê ̣ pháp luâ ̣t bao gồm khả năng xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép ; khả năng y êu cầ u các chủ thể khác chấ m dƣ́t hoa ̣t đô ̣ng cản trở việc thực hiện quyền nghĩa vụ của mình và yêu cầu họ tôn trọng các nghĩa vụ tƣơng ứng phát sinh từ quyền và nghĩa vu ; khả năng yêu cầu các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CQNN có thẩm quyền bảo vệ l ợi ích của mình khi các lợi ích đó bị ngƣời khác xâm hại. Bên cạnh đó, quyền của NNT trong quan hệ pháp luật thuế cũng có những đặc trƣng riêng của mình, thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhấ t, quyề n của NNT chỉ phát sinh khi tham gia quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế , tƣ́c là khi tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế , NNT mới có nhƣ̃ng quyề n mà pháp luâ ̣t thuế trao cho. Tổ chƣ́c , cá nhân là NNT nhƣng khi họ không tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế thì ho ̣ không có nhƣ̃ng quyề n mà pháp luật thuế quy định; Thứ hai, quyề n của NNT thƣờng gắ n với nghiã vu ̣ thƣ̣c thi của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền mà ở đây là cơ quan thu và quản lý thuế. Do trong quan hê ̣ pháp luâ ̣t thuế có hai chủ thể cơ bản là ngƣời nô ̣p thuế và cơ quan thu, quản lý thuế nên quyền của chủ thể này sẽ tƣơng ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia và ngƣợc lại; Thứ ba, quyề n của NNT phát sinh trên cơ sở triế t lý quyề n sở hƣ̃u tài sản.
Nói cách khác, khi nhà nƣớc đòi hỏi tổ chƣ́c, cá nhân – với tƣ cách là chủ tài sản phải nộp thuế cho mình thì chính Nhà nƣớc phải tôn trọng các quyền năng cơ bản chủ sở hƣ̃u tài sản , đó là quyề n đƣơ ̣c đinh ̣ đoa ̣t đố i với số tiề n thuế mà mình sẽ nộp cho Nhà nƣớc (thông qua ngƣời đa ̣i diê ̣n cho mình là Quố c hô ̣i), Quyề n đƣơ ̣c tƣ̣ vê ̣ khi Nhà nƣớc xâm pha ̣m các quyề n và lơ ̣i ích chính đáng của mình, ngoài số thuế và số tiền phạt phải nộp. Bởi le,̃ quyề n sở hƣ̃u đƣơ ̣c xem là quyề n tố i cao và thiêng liêng để thƣ̣c hiê ̣n quyề n con ngƣời , cho nên, khi nhà nƣớc điề u tiế t cũng phải tôn tro ̣ng quyề n sở hƣ̃u của NNT 1. Khái niệm bảo đảm quyền của người nộp thuế Hiện nay vẫn chƣa có một khái niệm hoàn chỉnh về bảo đảm quyền của NNT. Vấn đề bảo đảm quyền của NNT đóng vai trò rất quan trọng bởi vì việc bảo đảm quyền cho NNT đƣợc thực hiện tốt trên thực tế thì góp phần tạo sự tin tƣởng cho NNT với Nhà nƣớc, tạo điều kiện cho NNT thực hiện các quyền 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của mình một cách tốt nhất, tạo đƣợc môi trƣờng để kinh doanh thuận lợi, an toàn; từ đó có thể đảm bảo đƣợc nguồn thu cho NSNN.
Ghi nhận quyền của NNT trong pháp luật thuế là vấn đề không đơn giản. Tuy nhiên, từ quy định về quyền đến thực hiện trong thực tế mới là điều khó khăn nhất. Vì vậy, đồng thời với việc quy định quyền của NNT trong pháp luật, nhất thiết phải tính đến các bảo đảm thực hiện thực tế các quyền trong đó bảo đảm pháp lý có vai trò quan trọng. Bảo đảm pháp lý là một bộ phận cấu thành của các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, trong đó có các quyền và nghĩa vụ cơ bản.
Khoa học pháp lý chia các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân thành hai loại: Một là, các bảo đảm chung, bao gồm các bảo đảm chính trị (hệ thống chính trị), các bảo đảm kinh tế (tính chất của các quan hệ kinh tế, khả năng kinh tế.), các bảo đảm xã hội (đặc điểm, tính chất của các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, bầu không khí xã hội, vai trò của xã hội dân sự.), các bảo đảm tƣ tƣởng (quan điểm, quan niệm chính trị, pháp lý. xung quanh vấn đề quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ công dân). Các bảo đảm này tạo ra nền tảng chung cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân. Các bảo đảm này về bản chất không có tính chất pháp lý, không trực tiếp gắn với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, nó thể hiện mối liên quan có tính trừu tƣợng đến khả năng thực hiện tổng thể các quyền và nghĩa vụ của công dân.
Hai là, các bảo đảm riêng còn đƣợc gọi là các bảo đảm pháp lý nhƣ các quy định về thủ tục pháp lý, chế tài pháp lý, quy định giải quyết tranh chấp pháp luật về quyền. Chính nhờ có các bảo đảm pháp lý trên đây mà việc thực hiện thực tế quyền của NNT ở nƣớc ta khá tốt. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những thiếu sót, bất cập. Quy định quyền trong pháp luật nhƣng chúng ta không biết chúng đƣợc thực hiện nhƣ thế nào trên thực tế.
Không có cơ quan nào xem 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xét, điều chỉnh, đề xuất việc xây dựng và hoàn chỉnh các bảo đảm pháp lý thực hiện các quyền. Do đó, cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện các bảo đảm pháp lý, tùy theo thực trạng hiện nay của mỗi dạng thức bảo đảm. Trong pháp luật thuế GTGT và trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT; bảo đảm quyền của NNT đƣợc hiểu là xây dựng các quy định pháp lý về khấu trừ, hoàn thuế một cách hoàn thiện, hợp lý và các cơ chế để bảo đảm quyền cho NNT nhƣ thanh tra, kiểm tra; khiếu nại; khởi kiện.để giải quyết khi các chủ thể (mà chủ yếu là CQNN) vi phạm quyền của NNT. Khái niệm khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng 1.
Khái niệm khấu trừ thuế giá trị gia tăng Khấu trừ thuế là trả lại thuế đầu vào của doanh nghiệp đã nộp khi đáp ứng đủ điều kiện.