Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền làm việc và pháp luật về bảo đảm quyền làm việc của người lao động. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền làm việc của người lao động và thực tiễn thi hành. Hoàn thiện pháp luật lao động về bảo đảm quyền làm việc của người lao động.
7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN LÀM VIỆC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Khái quát về quyền làm việc 1. Khái niệm về quyền làm việc Quyền làm việc của người lao động xuất phát từ quyền con người Quyền con người là một phạm trù đa diện, có quá trình phát triển từ rất lâu đời trong lịch sử nhân loại, là một vấn đề khá phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý… Tùy theo cách tiếp cận, nhìn nhận mà có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về quyền con người tiêu biểu như: Trong Hiến pháp năm 2013 quyền con người được quy định đầy đủ như sau: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Theo Hiến pháp các quyền con người ở Việt Nam cũng được chia thành năm nhóm đó là quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, nội dung của các Công ước đều được nội luật hóa trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Điều này cho thấy việc coi trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, là yêu cầu 8 quan trọng trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quyền con người là vấn đề luôn được Liên Hợp quốc quan tâm, với mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh thế giới, Liên Hợp quốc đã soạn thảo hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người. Năm 1948, Liên Hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn về quyền con người để ghi nhận tất cả các quyền con người trên các lĩnh vực trong 30 điều. Bản Tuyên ngôn được đánh giá là một trong những thành tựu lớn của Liên Hợp quốc bởi đây không chỉ là văn kiện đầu tiên khẳng định các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến chương, mà còn ghi nhận các quyền và tự do của con người một cách cụ thể như các quyền liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sự. Trên cơ sở Tuyên ngôn về quyền con người, Liên Hợp quốc đã cụ thể hóa các quy định về quyền con người bằng các Tuyên bố, Công ước, trong đó phải kể đến hai Công ước quốc tế quan trọng nhất năm 1966 đó là Công ước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và Công ước về các quyền dân sự, chính trị.
Hai công ước này ghi nhận các quyền con người trên tất cả năm lĩnh vực của đời sống xã hội như dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Quyền làm việc của người lao động Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa việc làm gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình. Như vậy, theo ILO người làm việc là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Năm 2005, 9 ILO đưa khái niệm việc làm vào từ điển chuyên ngành, theo đó, việc làm là công việc được trả công.
Việc làm cũng đề cập đến số người tự tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công. Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Trên cơ sở tiếp cận quyền con người, quyền làm việc của NLĐ dưới góc độ quyền con người được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế và trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, em xin đưa ra khái niệm về quyền làm việc của NLĐ: “Quyền làm việc của NLĐ là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm quyền làm việc và các chế độ khác khi NLĐ tham gia quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động”. Đặc điểm của quyền làm việc Thứ nhất, quyền làm việc của người lao động là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm việc làm.
Việc làm là một phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, mọi người khi đến một độ tuổi nhất định và có sức lao động đều có quyền làm việc để tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình, nếu việc làm đó không bị pháp luật cấm. Việc làm không chỉ tạo ra thu nhập cho NLĐ mà còn góp phần quan trọng đối với sự phát triển xã hội, hoàn thiện nhân cách con người. Vì vậy, để đảm bảo quyền làm việc - một quyền cơ bản của NLĐ, đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng, ban hành hệ thống văn bản pháp luật, chính sách việc làm nhằm tạo điều kiện, cơ hội để NLĐ có việc làm ổn định, có thu nhập, qua đó đảm bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình đồng thời góp phần phát triển xã hội. Thứ hai, quyền làm việc của người lao động là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thu nhập.
Đối với NLĐ, thu nhập là mục tiêu khi họ quyết định tham gia vào 10 Quan hệ lao động, nhằm duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình. Các khoản thu nhập của NLĐ có thể gồm tiền lương (lương cơ bản, lương làm thêm giờ), tiền thưởng, chế độ phụ cấp khác,.Về mặt pháp lý, thu nhập của NLĐ thể hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi bên (NLĐ, NSDLĐ) với mục đích là đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của NLĐ. Vì vậy, các khoản thu nhập của NLĐ chỉ được bảo vệ, bảo đảm khi được ghi nhận trong hệ thống văn bản pháp luật của các quốc gia. Thứ ba, quyền làm việc của người lao động là quyền được bảo vệ và bảo đảm các chế độ bảo hiểm xã hội.
BHXH là một trong các quyền hết sức quan trọng của NLĐ, với NLĐ, BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho bản thân và gia đình họ. Khi tham gia quan hệ lao động, NLĐ phải trích một khoản nộp vào quỹ BHXH nhằm bảo đảm khi họ gặp rủi ro, bất chắc như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.dẫn đến chi phí tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời, thu nhập bị giảm, đời sống có thể lâm vào tình cảnh khó khăn. Vì vậy, BHXH giúp NLĐ được nhận một khoản tiền trợ cấp để bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm nhằm đảm bảo mức sinh hoạt cơ bản cho bản thân và gia đình. Ngoài các đặc điểm trên, để bảo vệ, bảo đảm quyền làm việc của NLĐ các quốc gia ghi nhận các chế độ khác như: được tham gia công đoàn, được nghỉ ngơi hưởng nguyên lương, được đảm bảo các điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh, được đình công theo quy định của pháp luật.
Ý nghĩa của quyền làm việc Quyền làm việc của người lao động có ý nghĩa rất to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, đối với một cá nhân con người cũng như một tập thể lao động. Điều này xuất phát trước hết ở tầm quan trọng của lao động trong lịch sử xã hội loài người, đúng như Ph.Ăng-ghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên 11 một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: lao động đã tạo ra chính bản thân con người” Quyền làm việc có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển xã hội, phát triển con người. Việc làm giúp con người từ vượn thành người, giúp con người thành con người xã hội.Mác đã chỉ ra rằng: Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên, con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên. Thông qua hoạt động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội.
Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. Lao động, việc làm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm giàu cho xã hội, nhờ đó xã hội phát triển tiến bộ. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi quá trình phát triển. Phát triển của một quốc gia hay địa phương phải quan tâm đến hai nhân tố: Sự phát triển tiềm lực chung như công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng… và phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực có liên quan trực tiếp với chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống. Chất lượng cuộc sống có thể hiểu là mức độ phúc lợi xã hội và sự thỏa mãn một số nhu cầu của con người mà trong đó việc làm là yếu tố tạo nên chất lượng cuộc sống. Các yếu tố cốt lõi của chất lượng cuộc sống bao gồm: Sức khỏe, giáo dục, công việc làm, tiền bạc (do có thu nhập), quan hệ xã hội, môi trường. Do đó, quyền làm việc đem lại được hai yếu tố quan trọng trong các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống của con người.
Tầm quan trọng của quyền làm việc, mặt khác, lại nằm ở khía cạnh pháp lý quốc tế của nó- một công cụ hữu hiệu để điều tiết mối quan hệ giữa các quốc gia trong lĩnh vực lao động.