Chương 1: Một số van dé lý luận về bảo đảm tính công khai, minh bạch trong xây dựng luật, pháp lệnh Chương 2: Thực trang bảo đảm tính công khai, minh bach trong xây dựng luật, pháp lệnh Chương 3: Giải pháp bao dam tính công khai, minh bach trong xây dựng luật, pháp lệnh 10 CHUONG 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE BAO DAM TINH CONG KHAI, MINH BACH TRONG XAY DUNG LUAT, PHAP LENH 1. Khái niệm bao đảm tinh công khai, minh bach trong xây dung luật, pháp lệnh 1. Khái niệm công khai, minh bạch Công khai là một khái niệm có tính lịch sử, gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người và đặc biệt là với sự hình thành, củng cô của nền dân chủ.!? Trong mọi giai đoạn lịch sử, công khai luôn là một trong những nguyên tắc cốt lõi nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin, thúc đây sự tham gia của người dan vào đời sống chính trị - pháp lý và tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực.
Ở những giai đoạn sơ khai, khi quyền lực tập trung chủ yếu vào một nhóm nhỏ, thông tin thường bị kiểm soát chặt chẽ và chỉ được chia sẻ trong phạm vi nhất định. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự ra đời của các thé chế dân chủ, nguyên tắc công khai dần được khang định như một yếu tổ tắt yêu nhằm dam bảo sự giám sát của công chúng đối với bộ máy nha nước. Xét về mặt ngôn ngữ, “công khai” là tính từ hay tính ngữ và tổ hợp tương đương “không giữ kin mà dé cho mọi người đều có thé biết).!? Theo cách hiểu Hán Việt, “công” có nghĩa là chung, thuộc về tập thể, còn “khai” có nghĩa là mở ra. Như vậy, công khai thé hiện bản chất của sự cởi mở trong việc chia sẻ thông tin và nguồn lực.
Dưới góc độ lý thuyết về quản trị nhà nước, khái niệm “công kha?” được sử dung rộng rãi và có nội hàm mở rộng hơn, không chỉ đơn thuần là sự thé hiện về mặt thông tin. Điều 2 Khoản 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đối, bỗ sung các năm 2007 và 2012) định nghĩa: “Công khai là việc cơ quan, tô chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chỉnh thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định.” Như vậy, trong hoạt động của bộ máy nhà nước, công khai không chỉ đơn thuần là việc phổ biến thông tin mà còn là một cơ chế đảm bảo dé người dan dé dàng tiếp cận các quyết định, chính sách của Nha nước. Trong các tài liệu quốc tế, công khai cũng được xem là một yếu tố nền tảng nhăm dam bảo quyền tiếp cận thông tin, thúc day sự tham gia của công chúng vao quá trình Ue Lê Thị Diệu Khánh, (2017), Luận văn Thạc sỹ Công khai, minh bạch trong pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trân — từ thực tiên thành phô Đồng Hới, tinh Quảng Binh, Học viện Hành chính quốc gia, Thừa Thiên Huê. 13 Hoàng Phê, (2004), Tu điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hà Nội.
11 hoạch định chính sách và giám sát hoạt động của chính quyền. Các tác giả của bài viết “Openness” đăng tải trên Tạp chí Đánh giá chiến lược mạng có quan điểm rằng khái niệm “công khai” hàm ý khả năng tiếp cận những nguồn lực vốn di bị đóng hoặc bị hạn chế ở các mức độ khác nhau, đồng thời phan ánh một phương thức chia sẻ tai nguyên trong tô chức xã hội. ! Một nghiên cứu được đăng tai trên Tạp chí Công nghệ Thông tin của Anh đã mở rộng định nghĩa này, cho rằng công khai bao gồm cả quyền tiếp cận tri thức, công nghệ và các nguồn lực khác.!” Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất với phạm vi áp dụng quốc tế, nhưng về bản chất, các quan điểm về công khai trong tai liệu quốc tế đều xoay quanh những nguyên tắc cốt lõi như quyền tiếp cận thông tin và sự tham gia của công chúng vào quá trình ra quyết định. Những yêu tố này cũng chính là nội dung mà pháp luật Việt Nam hướng đến khi đề cao tính công khai trong quản trị nha nước và xây dựng pháp luật.
Minh bạch là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quản trị nhà nước và xây dựng pháp luật, góp phần dam bao sự rõ rang, dễ hiểu và khả năng tiếp cận thông tin của các chủ thể liên quan. Trong bối cảnh hiện đại, minh bạch không chỉ là yêu cầu kỹ thuật trong việc truyền tải thông tin mà còn là yếu tố cốt lõi dé tăng cường trách nhiệm giải trình, ngăn ngừa tham những và củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp luật. Mặc dù được sử dụng phổ biến, khái niệm minh bạch có thể mang những ý nghĩa khác nhau tùy vào từng lĩnh vực và góc độ tiếp cận. Theo từ điển Tiếng Việt, “minh bạch” được câu thành từ “minh” (sáng) và “bạch” (trang), hàm ý sự sáng rõ, rành mạch.'5 Ta có thé thay, “minh bach” là một khái niệm khá trừu tượng và rộng, không chỉ đòi hỏi khả năng sẵn sàng chia sẻ thông tin như “công khai” mà còn là khả năng tiếp cận thông tin, sẵn sàng giải thích, trao đôi dé làm rõ vấn dé.
Kê từ thời kỳ đổi mới, hội nhập, thuật ngữ “minh bạch” ngày càng xuất hiện phổ biến trong các văn ban pháp luật của Việt Nam. Thuật ngữ này có thé được tìm thấy sớm nhất trong Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về cách tổ chức các tòa án va các ngạch thâm phán trong nước. Theo đó, khi khám xét nhà của người dân dé thu giữ tang vật, Ban Tư pháp xã hội phải “lập biên bản minh bach” và 14 Tyng-Ruey Chuang, Rebecca C. Fan, Ming-Syuan Ho, Kalpana Tyagi, (2021), “Openness”, Internet Policy review Journal, (11/01).
15 Daniel Schlagwein, Kieran Conboy, Joseph Feller, Jan Marco Leimeister, Lorraine Morgan, 2017, “Openness with and without Information Technology: A Framework and a Brief History”, Journal of Information Technology, (32/04). 16 Nguyễn Như Ý, (2007), Dai từ điển tiếng Việt, Đại hoc quốc gia thành phố Hồ Chi Minh, Thanh phố Hồ Chi Minh. 12 không được xâm phạm đến các đồ vật khác. Minh bạch cũng là một khái niệm quan trọng được các tô chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế sử dung rộng rãi.
Từ đầu những năm 1990, khái niệm này gắn liền với vấn đề phòng, chống tham nhũng và quản trị công. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa minh bạch trong quan trị nhà nước 1a sự công khai và khả năng tiếp cận dit liệu, thông tin của Chính phủ. Trong bai viết “The Right to Know: Transparency for an Open Worid”, đăng tải trên Tạp chi NewYork, Ann Florini nhấn mạnh rang minh bach thé hiện ở “utc độ mà thông tin được cung cấp cho những người bên ngoài, cho phép họ có tiếng nói dựa trên hiểu biết trong quá trình ra quyết định và/hoặc đánh giá các quyết định do những người trong cuộc dua ra”.'” Nhìn chung, khái niệm “minh bạch” trong các nghiên cứu va văn bản pháp lý vẫn được hiểu dựa trên những nguyên tắc cốt lõi như đảm bảo quyền tiếp cận thông tin, tăng cường trách nhiệm giải trình va thúc day sự tham gia của công chúng vào quá trình ra quyết định. Thuật ngữ “công khai” và “mình bạch” tuy về nội hàm ngữ nghĩa có sự khác biệt nhưng luôn được sử dụng song hành, gan bó mật thiết với nhau.
Thuật ngữ “công khai” và “minh bạch” tuy có mỗi liên hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất về nội hàm ngữ nghĩa. Trên thực tế, dù cả hai thuật ngữ đều đã trở thành khái niệm pháp lý phổ biến, pháp luật và thực tiễn áp đụng đôi khi chưa làm rõ sự khác biệt giữa chúng, dẫn đến sự nhằm lẫn trong cách sử dụng. Về bản chất, công khai thường nhắn mạnh vào hành động của chủ thé trong việc cung cấp hoặc công bố thông tin, tạo điều kiện dé thông tin được biết đến rộng rãi. No thé hiện sự cởi mở, dé dang tiếp cận thông tin mà Nhà nước hoặc các tổ chức cung cấp cho người dân.
Trong khi đó, minh bạch không chỉ bao hàm yếu tố dé dang tiếp cận thông tin như công khai mà còn yêu cầu thông tin phải rõ ràng, nhất quan, dé hiểu, đáng tin cậy và không gây nhầm lẫn hoặc cản trở người tiếp nhận. Minh bạch cũng đòi hỏi quá trình cung cấp thông tin phải đi kèm với trách nhiệm giải trình, nghĩa là người cung cấp thông tin không chỉ đưa ra thông tin mà còn phải đảm bao rằng người tiếp nhận có quyền đặt câu hỏi, tham gia thảo luận và nhận được phan hôi một cách trung thực, thang thắn. Nói cách khác, “công khai” là một phương thức dé hướng tới sự “minh bạch”.!Š Một thông tin có thé được công khai nhưng chưa chắc đã 17 Florini, Ann Ed, (2007), The Right to Know: Transparency for an Open World, Columbia University Press, New York. ko Lương Quỳnh Khuê, (2021), Vai trò của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước và bảo đảm quyền công dân, xem tại đường link: https://byvn.net/wAw5 truy cập ngày 15 tháng 01 năm 2025 13 minh bạch nếu nội dung của nó không rõ ràng, thiếu tính nhất quán hoặc không tạo điều kiện để người dân hiểu và giám sát.
Do đó, dé đảm bảo minh bạch, trước hết phải có sự công khai, nhưng công khai đơn thuần vẫn chưa đủ cần đi kèm với sự rõ ràng, trung thực và trách nhiệm giải trình từ phía người cung cap thông tin. Khái niệm xây dựng luật, pháp lệnh 1. Luật, pháp lệnh Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, luật và pháp lệnh là hai loại VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo dam tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Việc ban hành luật và pháp lệnh không chỉ góp phan én định trật tự xã hội, han chế sự lạm quyền, mà còn đảm bảo quyền lực nhà nước được thực thi phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Các văn bản này chứa đựng những quy định nền tảng, mang tính định hướng, điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực trong đời sống. Với tư cách là những VBQPPL điền hình, luật và pháp lệnh không chỉ đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng dé các văn bản có hiệu lực thấp hơn ra đời mà còn mang đầy đủ các đặc trưng của loại văn bản này, bao gồm: được ban hành bởi chủ thể có thâm quyền, chứa đựng các QPPL mang tính bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện, và được ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo QDPL.