Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học (mã số: 62 32 01 01) với đề tài "Báo chí với việc bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội" do nghiên cứu sinh Đào Xuân Hưng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Duy Thông, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, nơi hội tụ nguồn di sản văn hóa vật thể phong phú với hơn 5.850 di tích, bao gồm 11 di tích quốc gia đặc biệt, 1.167 di tích quốc gia và 1.179 di tích cấp thành phố. Mật độ di tích này thuộc diện cao hàng đầu cả nước, có niên đại trải dài từ trước thời Lý đến thời Nguyễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh đô thị hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều di sản đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, biến dạng hoặc bị xâm hại; công tác quản lý di tích còn bất cập, hiện tượng thương mại hóa, mê tín dị đoan vẫn phát sinh.

Trong khi đó, báo chí với tư cách là phương tiện thông tin đại chúng giữ vai trò xung kích trong việc tuyên truyền, định hướng dư luận và phản biện xã hội nhằm bảo tồn di sản theo tinh thần Luật Di sản văn hóa (2001, Điều 10, 11) và Luật Thủ đô (Điều 11). Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội dưới góc độ sử học hoặc văn hóa học, song việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về thực trạng báo chí phản ánh, tác động truyền thông và mức độ tiếp nhận của công chúng đối với công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vật thể Thủ đô vẫn còn là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò, chức năng của báo chí trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa; khảo sát, đánh giá thực trạng báo chí thông tin về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể của Hà Nội; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động báo chí trong lĩnh vực này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
    2. Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu dựa trên việc tổng hợp cơ sở lý luận báo chí truyền thông, xã hội học và văn hóa học.
    3. Phân tích làm rõ các khái niệm, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và chức năng của báo chí trong bảo tồn di sản vật thể.
    4. Khảo sát thực trạng thông tin trên 5 cơ quan báo chí và điều tra xã hội học về sự tiếp nhận của công chúng Hà Nội; đánh giá thành công và hạn chế.
    5. Đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị khả thi đối với các cấp quản lý và cơ quan báo chí.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Văn bản luận án xác định 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của báo chí trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội là gì?
  • Câu hỏi 2: Báo chí đã có những thành công, đóng góp và hạn chế gì trong việc truyền thông bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội?
  • Câu hỏi 3: Báo chí cần làm thế nào để khắc phục được những hạn chế, bất cập và phát huy được cao nhất hiệu quả truyền thông về bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội?

Tương ứng với 3 câu hỏi trên, luận án đặt ra 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Báo chí là kênh tiếp cận thông tin chính về nội dung bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội.
  • Giả thuyết 2: Mặc dù báo chí đã mang đến cho công chúng những nhận thức khá đầy đủ về vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội, tuy nhiên vẫn còn sự mất cân đối trong phương thức xây dựng nội dung về vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội.
  • Giả thuyết 3: Báo chí vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thông tin của người dân về những vấn đề liên quan đến bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của báo chí với công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể của Hà Nội.
  • Phạm vi loại hình và cơ quan báo chí: Khảo sát 5 cơ quan báo chí thuộc hai loại hình báo in và báo điện tử:
    • 2 báo in phát hành hàng ngày: Báo Nhân Dân (Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam), Báo Hànộimới (Cơ quan ngôn luận của Thành ủy Hà Nội).
    • 3 báo điện tử: Báo Văn Hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), VietnamNet.vn (Bộ Thông tin và Truyền thông), VnExpress.net (Bộ Khoa học và Công nghệ).
  • Phạm vi thời gian khảo sát văn bản báo chí: 05 năm, từ tháng 01/2014 đến tháng 01/2019.
  • Phạm vi di sản khảo sát: Tập trung vào 13 di sản văn hóa vật thể tiêu biểu của Hà Nội được UNESCO công nhận hoặc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt / quốc gia: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hồ Hoàn Kiếm - đền Ngọc Sơn, đền Phù Đổng, đền Sóc Sơn, đền Cổ Loa, chùa Thầy, chùa Tây Phương, đình Chèm, đình Tây Đằng, đền Hát Môn, đền Hai Bà Trưng, danh thắng Hương Sơn.
  • Phạm vi khảo sát công chúng: Khảo sát mẫu 600 phiếu tại các quận nội thành (300 phiếu) và huyện/thị xã ngoại thành Hà Nội (300 phiếu), thực hiện từ ngày 01/01/2018 đến ngày 01/06/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành các nhóm chủ đề cụ thể:

Nhóm tài liệu Các tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản Nội dung chính và đóng góp kế thừa
Nghiên cứu quốc tế về vai trò của báo chí và di sản - Bittner (1989)
- Jeff Malpas
- Richard Prentice, Sinéad Guerin, Stuart McGugan
- David Bearman, Kati Geber
- Eric Haas
Khẳng định báo chí định danh di sản với địa danh, xây dựng thương hiệu văn hóa, xóa nhòa rào cản tiếp cận bảo tàng số, định hình nhận thức và thu hút sự quan tâm của công chúng thông qua chuyên mục văn hóa - giáo dục.
Nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ báo chí - bảo tồn di sản - Chan Wai-Yin, Ma Shu-Yun
- Brian Graham, Greg Ashworth, John Tunbridge
- Yu-Ju Wang, Chihkang Wu, Jingxue Yuan
- Paul A. Cunningham
- Eduard F. Sekler
- Mike Robinson, Helaine Silverman
- Benedict Anderson
- Eck
Phân tích xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản; xem xét di sản như một tài nguyên kinh tế - xã hội cần truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC); cảnh báo tính chủ quan của truyền thông có thể làm méo mó bản sắc di sản.
Nghiên cứu trong nước về lý luận báo chí và dư luận xã hội - Những vấn đề của báo chí hiện đại (Nxb Chính trị Quốc gia)
- Trần Hữu Quang (Xã hội học báo chí)
- Báo chí và thông tin đối ngoại
- Nguyễn Văn Dững (Báo chí và dư luận xã hội)
- Mai Quỳnh Nam (Truyền thông và phát triển)
- Hữu Thọ, Đức Dũng, Đinh Hường
Xác định bản chất, chức năng xã hội, cơ chế tác động của báo chí, quy trình hình thành - dẫn dắt - điều hòa dư luận xã hội và phương pháp tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu truyền thông đại chúng.
Nghiên cứu trong nước về báo chí và văn hóa - Phạm Văn Đồng (Văn hóa và đổi mới)
- Bùi Thanh Thủy (Tạp chí Văn hóa học, 2014)
- Trần Ngọc Tăng (Luận án TS Triết học, 1996)
- Nguyễn Sơn Minh (Luận án TS Báo chí học)
- Đặng Thị Thu Hương, Vũ Duy Thông, Đinh Ngọc Ruẫn, Lê Văn Phong, Giáp Văn Tấp, Hoàng Chương
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và đổi mới; vai trò của báo chí trong việc giáo dục thẩm mỹ, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường.
Nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể Hà Nội - Trần Văn Bính (Văn hóa Thăng Long - Hà Nội hội tụ và tỏa sáng)
- Nguyễn Thế Long, Phạm Mai Hùng (Chùa, đình, đền Hà Nội, 1992)
- Doãn Đoan Trinh (Hà Nội, di tích lịch sử văn hóa và danh thắng, 2000)
- Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Doãn Tuân
- Bùi Hoài Sơn, Phạm Xuân Hằng, Nguyễn Ngọc Mai
Khảo cứu lịch sử, diện mạo kiến trúc, giá trị văn hóa và thực trạng xuống cấp của hệ thống di tích Hà Nội; đề xuất định hướng phát triển bền vững sản nghiệp văn hóa Thủ đô.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Mặc dù hệ thống tài liệu về văn hóa Hà Nội và lý luận báo chí rất đa dạng, nhưng phần lớn các công trình văn hóa học chưa đi sâu vào cơ chế truyền thông báo chí, còn các nghiên cứu báo chí học trước đây chủ yếu dừng ở mức phân tích nội dung văn bản định tính hoặc tiếp cận mảng văn hóa - nghệ thuật nói chung. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Đánh giá toàn diện hoạt động của báo chí đối với riêng hệ thống di sản văn hóa vật thể của Hà Nội thông qua việc kết hợp song song giữa phân tích nội dung văn bản báo chí (5 cơ quan báo chí trong 5 năm) và khảo sát thực nghiệm phản hồi của công chúng (600 mẫu xã hội học), từ đó lượng hóa mức độ tiếp nhận và tác động thực tế của báo chí đối với nhận thức, thái độ và hành vi của người dân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận liên ngành giữa Báo chí học, Xã hội học truyền thông đại chúng và Văn hóa học, vận dụng các lý thuyết và văn kiện pháp lý nền tảng:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa; các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998, Văn kiện Đại hội X, XI).
  • Hệ thống khái niệm cốt lõi:
    • Báo chí: Theo Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng, báo chí là bộ phận trung tâm, giữ vai trò nền tảng của truyền thông đại chúng, mang chức năng thông tin, giáo dục, phản biện và định hướng xã hội.
    • Văn hóa và Văn hóa vật thể: Căn cứ Công ước Di sản thế giới của UNESCO và Điều 4 Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001), văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
    • Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa: Bảo tồn là gìn giữ trạng thái nguyên gốc, ngăn ngừa sự biến dạng; phát huy là đưa giá trị di sản vào đời sống đương đại, khai thác phục vụ phát triển bền vững và lan tỏa bản sắc dân tộc.
  • Các lý thuyết truyền thông ứng dụng:
    • Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda-Setting Theory): Dựa trên nền tảng của Walter Lippmann (1922), Bernard Cohen (1963), Maxwell McCombs và Donald Shaw (1968, 1972), giải thích cách thức báo chí lựa chọn tần suất, vị trí và góc độ phản ánh để định hướng điều công chúng và các nhà hoạch định chính sách cần suy nghĩ và ưu tiên xử lý.
    • Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications): Của Elihu Katz và Ikuo Takeuchi, phân tích động cơ, nhu cầu tiếp nhận thông tin di sản của công chúng và mức độ thỏa mãn của họ đối với các sản phẩm báo chí.
    • Mô hình truyền thông của Harold Lasswell và Shannon: Xác định các thành tố trong chu trình truyền thông (Nguồn phát - Thông điệp - Kênh truyền - Người nhận - Hiệu quả tác động).
[Chủ trương của Đảng & Luật Di sản văn hóa] 

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp phân tích tài liệu: Nghiên cứu văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật (Luật Di sản văn hóa, Luật Thủ đô), các đề tài, sách chuyên khảo và báo cáo thường niên.
  2. Phương pháp phân tích thông điệp (Content Analysis): Thu thập, mã hóa, thống kê và đánh giá toàn bộ tin, bài phản ánh về 13 di sản văn hóa vật thể Hà Nội trên 5 tờ báo (Nhân Dân, Hànộimới, Văn Hóa, VietnamNet, VnExpress) trong giai đoạn 2014 – 2019 theo tiêu chí: tần suất, dung lượng, thể loại, chủ đề nội dung, hình thức thể hiện.
  3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi (Survey): Khảo sát 600 người dân sinh sống tại Hà Nội (chia đều 300 mẫu nội thành, 300 mẫu ngoại thành) từ 16 đến 75 tuổi trong khoảng thời gian từ 01/01/2018 đến 01/06/2018. Bảng hỏi gồm 18 câu hỏi về nhận thức, tần suất đọc, mức độ hài lòng và đánh giá vai trò của báo chí.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu (In-depth Interview): Phỏng vấn 3 nhóm đối tượng nhằm thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu: cán bộ/công chức nhà nước, người làm việc trong doanh nghiệp tư nhân, cán bộ hưu trí/tổ trưởng tổ dân phố.
  5. Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Nhập liệu và phân tích thống kê toán học bằng phần mềm SPSS 23.0; thiết lập hệ thống biểu đồ, bảng biểu so sánh bằng Microsoft Excel 2013; kiểm định các giá trị trung bình (Mean - ký hiệu $M$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về vấn đề báo chí với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các luận điểm của các học giả quốc tế (Bittner, Jeff Malpas, David Bearman, Eric Haas, Chan Wai-Yin, Paul A. Cunningham...) về vai trò của truyền thông trong việc định vị di sản, xây dựng thương hiệu văn hóa và xử lý mâu thuẫn giữa khai thác kinh tế và bảo tồn nguyên trạng.

Đồng thời, chương 1 điểm lại các công trình của các nhà nghiên cứu trong nước (Nguyễn Văn Dững, Trần Hữu Quang, Vũ Duy Thông, Đặng Thị Thu Hương, Trần Văn Bính...) về lý luận báo chí truyền thông, chức năng văn hóa của báo chí cách mạng và lịch sử di sản Thăng Long - Hà Nội. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chưa đánh giá cụ thể mức độ tương tác và phản hồi của công chúng Thủ đô đối với thông điệp báo chí về di sản vật thể, từ đó xác lập tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề báo chí với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho luận án. Tác giả làm rõ các khái niệm nền tảng: báo chí (nghĩa rộng, nghĩa hẹp, tính hệ thống), văn hóa, văn hóa vật thể (di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo Luật Di sản văn hóa 2001), bảo tồn và phát huy.

Chương này trình bày chi tiết các lý thuyết truyền thông ứng dụng:

  • Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Walter Lippmann, McCombs & Shaw, Bernard Cohen).
  • Lý thuyết sử dụng và hài lòng (Elihu Katz & Ikuo Takeuchi).
  • Mô hình truyền thông của Harold Lasswell và Shannon.

Chương 2 cũng phân tích hệ thống quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đối với văn hóa, khẳng định báo chí có các vai trò cơ bản: truyền bá tri thức lịch sử, giám sát và phát hiện vi phạm xâm hại di tích, định hướng thẩm mỹ và cổ vũ các mô hình xã hội hóa bảo tồn di sản.

Chương 3: Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể Hà Nội trên báo chí

Chương 3 tập trung phân tích kết quả khảo sát định lượng và định tính nội dung tin bài trên 5 cơ quan báo chí (Nhân Dân, Hànộimới, Văn Hóa, VietnamNet, VnExpress) trong 5 năm (2014 – 2019) đối với 13 di sản tiêu biểu:

  • Tần suất và mật độ thông tin: Báo chí duy trì dòng thông tin thường xuyên, phản ánh đậm nét các đợt lễ hội, các sự kiện kỷ niệm lớn hoặc khi phát sinh các sự cố xâm hại, trùng tu sai lệch di tích.
  • Cơ cấu nội dung và thể loại: Báo chí phản ánh đa dạng các mặt như: quảng bá giá trị lịch sử - kiến trúc, thực trạng xuống cấp, công tác trùng tu tôn tạo, hoạt động du lịch văn hóa. Tuy nhiên, thể loại phản ánh chủ yếu là tin ngắn, bài phản ánh; tỷ lệ các bài phóng sự điều tra chuyên sâu, bài bình luận, phân tích chuyên môn của các nhà khoa học còn hạn chế.
  • Hình thức chuyển tải: Báo in chú trọng bài viết kèm ảnh tư liệu; báo điện tử bước đầu tích hợp đa phương tiện (photo, video clip, đồ họa thông tin), giúp gia tăng tính trực quan.
  • Thành công và hạn chế: Báo chí đã kịp thời phát hiện nhiều vụ việc xâm phạm di tích, tạo áp lực dư luận để các cơ quan chức năng can thiệp; song vẫn còn tình trạng đưa tin giật gân, thiếu kiểm chứng kiến thức lịch sử, kiến trúc, và thông tin chưa đồng đều giữa các di tích nội thành và ngoại thành.

Chương 4: Công chúng Hà Nội và việc tiếp nhận thông tin về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể qua báo chí

Chương 4 công bố kết quả xử lý 600 phiếu trưng cầu ý kiến công chúng và các cuộc phỏng vấn sâu qua phần mềm SPSS 23.0:

  • Kênh tiếp cận: Báo chí (đặc biệt là báo điện tử và mạng xã hội chia sẻ đường dẫn báo chí) là kênh tiếp cận thông tin chính của người dân Thủ đô về di sản văn hóa vật thể, kiểm chứng giả thuyết 1.
  • Mức độ quan tâm: Đa số công chúng thể hiện sự quan tâm cao đối với các vấn đề bảo tồn di sản, đặc biệt là các di tích nổi tiếng (Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu, Hồ Gươm).
  • Đánh giá của công chúng về vai trò báo chí: Công chúng ghi nhận báo chí đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao nhận thức, cung cấp tri thức lịch sử và thiết lập chương trình nghị sự xã hội.
  • Bất cập từ phía công chúng phản hồi: Công chúng nhận định nội dung trên báo chí còn có sự mất cân đối: tập trung nhiều vào các sự kiện lễ hội bề nổi hoặc vụ việc tiêu cực, ít có những bài viết chuyên sâu hướng dẫn trải nghiệm văn hóa và giáo dục bảo vệ di sản; kiểm chứng và khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết 2 và giả thuyết 3.

Chương 5: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí đối với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể Hà Nội

Trên cơ sở thực trạng và dữ liệu khảo sát, chương 5 xác định các vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  1. Tăng cường công tác quản lý và phối hợp: Hoàn thiện cơ chế phối hợp thông tin giữa Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, các ban quản lý di tích với các cơ quan báo chí.
  2. Đổi mới phương thức sản xuất nội dung: Đa dạng hóa thể loại báo chí, tăng cường các bài viết bình luận chuyên sâu, ký sự văn hóa; ứng dụng kỹ thuật báo chí đa phương tiện (megastory, infograph, phóng sự ảnh số).
  3. Nâng cao trình độ đội ngũ người làm báo: Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về lịch sử, kiến trúc cổ, Luật Di sản văn hóa cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên theo dõi mảng văn hóa.
  4. Tổ chức sự kiện và tương tác xã hội: Báo chí chủ động phối hợp tổ chức các diễn đàn, tọa đàm, cuộc thi tìm hiểu di sản, huy động nguồn lực xã hội hóa cho công tác bảo tồn.
  5. Xây dựng mô hình hoạt động báo chí: Thiết lập mô hình liên kết thông tin đa chiều giữa Cơ quan quản lý – Cơ quan báo chí – Nhà khoa học/chuyên gia di sản – Cộng đồng công chúng dân cư.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và bổ sung khung lý luận chuyên ngành Báo chí học về cơ chế tác động của thông tin báo chí đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể cụ thể tại một đô thị lịch sử.
  • Vận dụng và làm rõ mối quan hệ giữa các lý thuyết truyền thông hiện đại (Thiết lập chương trình nghị sự, Sử dụng và hài lòng, Mô hình truyền thông đại chúng) trong lĩnh vực tuyên truyền và quản lý di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có căn cứ khoa học và số liệu thực nghiệm về thực trạng phản ánh của 5 cơ quan báo chí tiêu biểu (Nhân Dân, Hànộimới, Văn Hóa, VietnamNet, VnExpress) giai đoạn 2014 – 2019 về 13 di sản văn hóa vật thể tiêu biểu của Hà Nội.
  • Đo lường và đánh giá cụ thể qua dữ liệu điều tra xã hội học (600 mẫu) về nhận thức, thái độ, mức độ tiếp nhận và những mong muốn, đánh giá của công chúng Thủ đô đối với thông tin di sản trên báo chí.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng thực tế cho các tòa soạn báo và các cơ quan chỉ đạo, quản lý văn hóa - báo chí nhằm nâng cao chất lượng truyền thông di sản văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Do khối lượng di sản văn hóa vật thể của Hà Nội rất đồ sộ (hơn 5.850 di tích), luận án chỉ tập trung khảo cứu sâu 13 di sản tiêu biểu được UNESCO vinh danh hoặc xếp hạng quốc gia đặc biệt/quốc gia, chưa bao quát hết hệ thống di tích cấp cơ sở và di tích phân bố tại các vùng nông thôn xa trung tâm.
    • Về loại hình báo chí, nghiên cứu tập trung vào 5 tờ báo in và báo điện tử, chưa tiến hành phân tích nội dung toàn diện trên sóng phát thanh và truyền hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng khảo sát tác động truyền thông đối với toàn bộ các nhóm di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu của Thủ đô.
    • Nghiên cứu cơ chế lan tỏa thông tin di sản trên các nền tảng mạng xã hội và các hình thức báo chí dữ liệu, báo chí số thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông, Văn hóa học, Xã hội học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu liên ngành, quy trình thiết kế bảng hỏi khảo sát xã hội học, phương pháp phân tích nội dung thông điệp báo chí và việc ứng dụng các lý thuyết truyền thông (Agenda-Setting, Uses and Gratifications).
  • Đối với phóng viên, biên tập viên theo dõi mảng văn hóa: Tài liệu cung cấp góc nhìn thực tiễn về những điểm mạnh, điểm yếu trong cách đưa tin di sản, giúp cải thiện kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử - văn hóa và đa dạng hóa thể loại bài viết.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ban Tuyên giáo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND TP. Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội): Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác quy hoạch, chỉ đạo thông tin báo chí và xây dựng chính sách bảo tồn, phát huy di sản bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát nội dung trên những cơ quan báo chí cụ thể nào và trong khoảng thời gian bao lâu?

Luận án tiến hành khảo sát trên 5 cơ quan báo chí thuộc hai loại hình báo in và báo điện tử trong thời gian 05 năm (từ tháng 01/2014 đến tháng 01/2019):

  • Báo in: Báo Nhân Dân, Báo Hànộimới.
  • Báo điện tử: Báo Văn Hóa, VietnamNet.vn, VnExpress.net.

2. Danh mục 13 di sản văn hóa vật thể Hà Nội được luận án lựa chọn khảo sát gồm những di sản nào?

13 di sản văn hóa vật thể được khảo sát gồm: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hồ Hoàn Kiếm - đền Ngọc Sơn, đền Phù Đổng, đền Sóc Sơn, đền Cổ Loa, chùa Thầy, chùa Tây Phương, đình Chèm, đình Tây Đằng, đền Hát Môn, đền Hai Bà Trưng, danh thắng Hương Sơn.

3. Quy mô khảo sát công chúng và công cụ xử lý dữ liệu được thực hiện như thế nào?

Cuộc điều tra xã hội học được thực hiện trên mẫu 600 phiếu (300 phiếu tại các quận nội thành và 300 phiếu tại các huyện, thị xã ngoại thành Hà Nội) đối với công chúng từ 16 đến 75 tuổi, diễn ra từ 01/01/2018 đến 01/06/2018. Dữ liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 và hệ thống bảng biểu được tổng hợp trên Microsoft Excel 2013.

4. Kết quả nghiên cứu đã kiểm chứng những giả thuyết nào được đặt ra ban đầu?

Luận án đã kiểm chứng và xác nhận 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Báo chí là kênh tiếp cận thông tin chính yếu của công chúng Thủ đô về bảo tồn và phát huy di sản vật thể.
  • Giả thuyết 2: Tồn tại sự mất cân đối trong phương thức xây dựng nội dung (nhiều tin tức sự kiện lễ hội bề nổi hoặc vụ việc tiêu cực, thiếu vắng các bài phân tích, bình luận văn hóa chuyên sâu).
  • Giả thuyết 3: Báo chí hiện tại vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và toàn diện nhu cầu thông tin chuyên sâu của người dân về các vấn đề bảo tồn và phát huy di sản.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Báo chí với việc bảo tồn và phát huy văn hóa vật thể của Hà Nội" của tác giả Đào Xuân Hưng là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận báo chí truyền thông hiện đại và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm định tính - định lượng. Luận án đã phản ánh trung thực thực trạng thông tin di sản trên báo chí giai đoạn 2014 – 2019, đo lường chính xác mức độ tiếp nhận và phản hồi của 600 công chúng Thủ đô đối với 13 di sản vật thể tiêu biểu. Các giải pháp và mô hình liên kết thông tin được đề xuất trong luận án mang giá trị thực tiễn thiết thực, đóng góp tích cực vào công tác quản lý báo chí, nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí về văn hóa và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội.