Chương 1: CƠ SO LÝ LUẬN VE THONG DIEP BẢO VE QUYEN LOI BHXH CUA NGUOI LAO DONG TREN BAO CHI 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm thông điệp, thông điệp bao chi Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, người ta dùng chữ “Message” dé chi “thông điệp”. Nó cũng có thé hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông.
Trong tiếng Trung, chữ “thông điệp” (Tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Thông điệp là điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó”. Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái nệm then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông. Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thê băng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự.
Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo. Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Về cơ bản, cấu trúc thông điệp có 2 lớp: Lớp bên ngoài và lớp bên trong. Ở hình thức thể hiện, thông điệp bao gồm: Lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự.
tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt, nghe thấy được bằng tai. Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử. Trong báo chí, thông điệp có nhiều loại: (1) thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) thông điệp cụ thể là thông điệp cau thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông: (3) thông điệp tài liệu là loại thông điệp an chứa trong các tài liệu, dữ liệu, có thé dé dang nhin 19 thấy băng trực quan; (4) thông điệp ân là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng, tinh tế, có sự liên tưởng sâu xa. Thông điệp khi được sáng tạo xong, qua phương tiện truyền thông sẽ xâm nhập vào công chúng lần lượt theo các bước: tiếp nhận thông điệp => nhận biết nội dung của thông điệp => chấp nhận thông điệp => tin tưởng thông điệp => quyết tâm hành động, thay đôi hành vi cá nhân => kêu gọi, vận động người khác cùng thực hiện, cùng thay đổi hành vi.
Như vậy, trong dòng chảy của thông điệp, khâu cuối cùng là cực kỳ quan trong vì vậy dé tạo nên những thông điệp phù hợp và có ích cho cộng đồng, cần tiến hành khâu thử nghiệm đến khâu hoàn thiện và kiểm tra các điều kiện sản xuất thông điệp. Dù việc tạo ra thông điệp với mục đích gì thì nó cũng xuất phát từ lợi ích trước hết của “nguồn”, phóng viên, biên tập viên, của cơ quan bao chi. Thông điệp chính là một yếu tố quan trọng của quá trình truyền thông. Trước đây, mỗi khi đề cập tới truyền thông, người ta thường nhắc tới công thức nổi tiếng của Harold D.
Lasswell: Ai nói cái gi? Bằng kênh nào? Cho ai? Hiệu quả gì? (Who says what in which channel to whom with what effect?). Tuy nhiên, giới hạn của công thức nay là chỉ hình dung quá trình truyền thông như một đường thăng giữa một đầu là người phát tin và đầu kia là người nhận tin. Người nhận tin vô hình chung trở thành đối tượng tiếp nhận một cách thụ động. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác biệt, công chúng luôn có những cách phản ứng khác nhau đối với thông tin tiếp nhận.
Vì thế về sau các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo một dạng đường vòng khép kín, bao gồm 4 giai đoạn chính: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception) va phản hồi (feedback). Mô hình truyền thông theo chu kỳ này quan niệm rằng: một thông điệp, sau khi được phát ra, luôn luôn gây ra một phản ứng nào đó về phía 20 người nhận tin và do đó người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi gửi lại người phát tin ban đầu. Lúc này người nhận tin sẽ trở thành người phát tin - điều này làm cho quá trình truyền thông trở thành một chu kỳ khép kín. Thông điệp là những thông tin thực sự được chuyền theo một mạch truyền hay kênh khác đến đối tượng.
Bản thân thông điệp mang trong mình những mã hóa (encode) - tức là tìm tới một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nao đó dé đạt nội dung thông điệp. Quá trình mã hóa này bao gồm nhiều công đoạn kế tiếp nhau và liên quan rất nhiều đến khía cạnh kỹ thuật và công nghệ. Vì những thông điệp đó được mã hóa nên muốn hiểu chúng, về cơ bản phải giải mã nó. và bất cứ công cụ nào phát ra thông điệp đó và làm bạn biết đến.
Chính vì vậy, mặc dù “thông điệp” là một nhưng cách tiếp nhận và hiểu biết nó lại phụ thuộc vào từng cá nhân giải mã. Mỗi cá nhân do trình độ, sở thích, mục đích. khác nhau nên thông điệp đó cũng có cách tiếp cận và hiểu biết khác nhau. Ngoài ra, sự khác này còn tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp.
Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thê nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông. Mỗi thông điệp như một cơ thé sống, có quá trình sinh trưởng, phát triển và suy thoái. Môi trường xung quanh và những điều kiện cụ thể là các yếu tố giúp thông điệp “khỏe mạnh” hoặc ngược lại. Do đó, truyền thông phải chú ý theo dõi để làm mới thông điệp cả về nội dung và hình thức.
Sự đa dạng của đối tượng tiếp nhận đã làm cho mỗi thông điệp chuyền từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường giảm độ chính xác và cường độ. Nên việc “phủ sóng” thông điệp ở mức cao, liên tục là cần thiết để tăng cường thêm sức mạnh và sức ảnh hưởng của nó. Có những thông điệp mà “nguồn” tự nguyện tạo ra và phân phát bởi nhu cầu chia sẻ, muốn thuyết phục người khác. mà không cần đến sự đên bù vê mặt tài chính.
Có chăng là mong muôn nhận được sự cô vũ, 21 khích lệ của người tiếp nhận. Đây chính là đặc điểm dễ nhận thấy trong thời kỳ bùng nỗ internet. Bên cạnh đó cũng có thông điệp mà “nguồn” tạo nên đến “bán” mà người nhận muốn có phải bỏ ra một khoản chi phí hoặc thông điệp được đặt hàng từ một “bê thứ ba” khác. Như vậy, về cơ bản việc tạo ra thông điệp của nguồn luôn xuất phát từ những mục đích nhất định.
Việc thiết kế nên thông điệp hay cũng đòi hỏi những quy tắc riêng. Thông điệp trước tiên phải phù hợp với công chúng, nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông. Muốn vậy, việc nghiên cứu nhóm đối tượng hướng tới là điều cần thiết. Nếu thông điệp hướng tới các nhà hoạch định chính sách thì cần đưa ra được các lý do hiệu quả của một vấn đề nào đó để tạo được sự ủng hộ tích cực cho việc hoạch định chính sách.
Đối với công chúng - nhóm đối tượng, thông điệp cần hướng tới thay đổi nhận thức, hành vi và thái độ với một vấn đề đưa ra. Mỗi thông điệp đều có mục đích riêng nhưng yêu cầu chung là phải phù hợp với chính sách của Đảng, Nhà nước và các yếu tổ giá trị văn hóa - lối sông dân tộc. dé tránh những hậu quả ngoài ý muốn đối với nhóm đối tượng không thuộc phạm vi ảnh hưởng. Thông điệp nếu được truyền tải một cách tự nhiên thì dé đi vào lòng người hơn tức là phù hợp với tâm lý tâm trạng xã hội và thể hiện được lợi ích của công chúng.
Ngôn từ, cách diễn đạt trong thông điệp phải đơn giản, dé hiểu, dé làm theo và phù hợp với từng loại hình báo chí. Việc tạo thông điệp là sự thé hiện rõ ràng nhất năng lực của người thực hiện. Nó vừa khoa học, vừa nghệ thuật, đòi hỏi năng lực sáng tạo và yếu tố năng khiếu, sự tỉnh tế và khả năng thuyết phục của nhà truyền thông. Nếu như báo in, thông điệp có sự kết hợp khéo léo giữa nghệ thuật sử dụng ngôn từ, hình ảnh, màu sắc nhằm khơi gợi tình cảm, hướng mạnh vào nhận thức, lý trí của nhóm đối tượng; phát thanh khai thác tối đa ấn tượng mạnh từ âm thanh, giọng điệu; truyền hình có ưu thế vượt trội trong việc tạo cảm giác tiếp xúc qua hình ảnh, màu sắc tĩnh động, lời nói, âm thanh; thì báo điện tử, thông điệp 22 sẽ tận dụng tối đa lợi thế của sự kết hợp đa phương tiện như: hình ảnh, video, audio, đồ họa.
cùng với chữ viết chắc gọn. Thông điệp không phải tài nguyên có sẵn mà được tạo nên từ khối óc tài ba của nhà báo. Bằng sự nhanh nhạy của người làm báo, những chỉ tiết, sự việc xảy ra trong cuộc sông thường ngày, có ảnh hưởng và được công chúng quan tâm sẽ được “nhào nặn” dé tạo nên thông điệp. Báo chí dựa vào thông điệp dé tồn tại và công chúng can thông điệp dé hưởng thụ cuộc sông.
Quá trình truyền thông luôn luôn là quá trình hai chiều. Khi thông điệp được phát ra trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ được các cá nhân tiếp nhận và giải mã theo nhiều cách khác nhau. Nguồn muốn đạt mục đích đề ra thì phải tính toán rất khéo léo, từ việc chọn kênh phát đến hình thức phát, mật độ phát. Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì trước tiên “bộ máy” tạo ra thông điệp sẽ thu được các khoản lợi nhuận lớn.
Ví dụ, một cơ quan báo chí khi có nhiều tin, bài hay phát ra được các thông điệp gây được hiệu ứng dư luận thì uy tín ngày càng nâng cao, kéo theo việc thu hút được các hợp đồng quảng cáo; phóng viên, biên tập viên được nâng lương, nhuận bút và đời sống từ đó được nâng cao. Việc tạo nên thông điệp có ý nghĩa không chỉ đối với người khởi xướng mà còn đối với người tiếp nhận. Khi xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, thông điệp sẽ trực tiếp tác động đến người tiếp nhận và gây hiệu ứng xã hội. Thế nên vấn đề đạo đức của nhà báo được đặt lên hàng đầu, đặc biệt càng trở nên cấp thiết trong thời đại thông tin lan truyền với tốc độ chóng mặt.
Mỗi người đều có nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống xung quanh và dé thỏa mãn, họ sẽ tìm đến các phương tiện truyền thông đại chúng.