Chương 1: Lý luận chung về báo chí và dân ca Quan họ. Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy Dân ca Quan họ trên báo chí Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy báo chí Bắc Ninh thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CHÍ VÀ DÂN CA QUAN HỌ 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm dân ca Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có nền văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và giá trị của nó đã vượt qua bao thử thách của thời gian, bởi lẽ bản chất của văn hóa dân gian là lòng nhân nghĩa, thủy chung, vì nghĩa tình, vì ấm no, hạnh phúc. Đó là một cống hiến lớn lao, xứng đáng góp vào nền văn hóa chung của nhân loại. Dân ca là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học và âm nhạc dân gian của cả dân tộc.
Một trong những giá trị quý báu của dân ca là cho chúng ta thấy khá sâu sắc về cuộc sống, tâm hồn của người Việt Nam. Qua lời văn, nét nhạc, hình tượng dân ca, con người lao động Việt Nam từ bao đời nay muốn phô bày một cách chân thực nỗi lòng, ý nghĩ, tình cảm của mình. Mỗi miền dân ca trong cả nước, ta lại không gặp những con người Việt Nam chung chung, với một phong cách dân tộc chung chung, mà ở đây ta gặp những con người Việt Nam cụ thể, những tâm hồn có phong cách riêng được hun đúc từ bao đời ở những vùng văn hóa dân gian khác nhau. Con người Việt Nam qua dân ca là con người gắn bó với cuộc sống, tha thiết với quê hương, say sưa trong yêu thương, thủy chung trong nghĩa tình, cần cù, giản dị mà lại giàu mơ ước, hoài bão.
Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy họ gần như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai. Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đổi gọi là dị bản. Những bài dân ca được nhiều người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi.
Hiện nay các nhạc sĩ đã sáng tác thêm những lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự đa dạng và phong phú cho dân ca. Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề ngoài ra thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người. Tuy nhiên mỗi tỉnh thành, dân ca Việt Nam lại có phát âm, giọng nói và các từ khác nhau nên cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ngày nay, khi khảo sát một bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn biết được xuất xứ của chúng, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm, trong đó ví dụ như tiếng địa phương, những địa danh.
Đây là cách dễ nhận biết nhất để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca. Nói chung trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ.” và các dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bới những nốt nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét. Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r, d, gi” hay “s và x” phát âm giống nhau, không phân biệt nặng nhẹ. Dân ca miền Trung thì thường có chữ “ ni, nớ, răng, rứa.” dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng người Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ không dấu.
Những bài dân ca miền Nam thì thường có chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được).” chữ “ê” đọc thành chữ “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi,. Nhưng nhìn chung thì vẫn là thoát thai từ lòng dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ. Theo tiến sĩ khoa học Phạm Lê Hòa (Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương), dân ca là một loại hình âm nhạc với các thuộc tính không có tên tác giả, được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng; gắn với đời sống của người dân và mang màu sắc vùng miền. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo GS.TS Trần Quang Hải (Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học về Sơ lược về dân ca Việt Nam): “Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào.
Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững với thời gian”. Tóm lại, dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng nhau qua nhiều nguời từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc.Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng và bền vững cùng với thời gian. Từ đó, có thể hiểu khái niệm về dân ca như sau: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Khái niệm dân ca Quan họ Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về và khi mùa thu tới, người dân 49 làng Quan họ gốc thuộc xứ Kinh Bắc (bao gồm cả Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), dù ở bất cứ nơi đâu cũng trở về quê hương để trẩy hội đình, hội chùa, những lễ hội hết sức độc đáo bởi đã gắn liền với trình diễn Quan họ tự bao đời nay. Mặc dầu còn có những ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của Quan họ, có ý kiến cho là Quan họ có từ thế kỷ 11, số khác cho là từ thế kỷ 17, song, các công trình khảo sát, nghiên cứu từ trước tới nay đều đã khẳng định giá trị to lớn của di sản "Văn hóa Quan họ", đặc biệt là dân ca Quan họ, loại hình nghệ thuật được coi là cốt lõi của văn hóa xứ "Kinh Bắc" ngàn năm văn hiến. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dân ca Quan họ là một hình thức hát giao duyên. Những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the và những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón thúng quai thao, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người Quan họ.
Theo quan niệm của người Quan họ, nghệ nhân là những người có kỹ năng hát “vang, rền, nền, nẩy” điêu luyện, thuộc nhiều bài, nhiều "giọng" Quan họ. Họ chính là những bậc thầy dân gian thực hành việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền vốn di sản quý báu đó cho các thế hệ mai sau nên rất xứng đáng được tôn vinh. Dân ca Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam. Nó còn được hình thành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay.
Như vậy, Dân ca Quan họ là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Đây là môn nghệ thuật được hợp thành bởi nhiều yếu tố như âm nhạc, lời ca, phục trang, lễ hội … với một lối hát giao duyên dân dã, thể hiện mối quan hệ gắn bó tình nghĩa giữa những "liền anh", "liền chị" hát quan họ và là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc. Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Quan họ * Bảo tồn: Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm bảo tồn. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cắt nghĩa: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”.
[34; tr 56] Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đổi, biến hóa hay biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, hay “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn.
Công tác bảo tồn dân ca Quan họ là hoạt động của các chủ thể trong xã hội nhằm mục đích giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy dân ca Quan họ ở hiện tại và tương lai. Công tác bảo tồn dân ca Quan họ có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: Bảo tồn nguyên trạng (Authentic conservation); Trùng tu (Restoration); Gia cố (Consolidation); Tái định vị (Anastilose); Phục hồi (Restore); Tái tạo – làm lại (Reconstruction); Qui hoạch bảo tồn (Preservation planning). Xét dưới góc độ kỹ thuật bảo tồn dân ca Quan họ bao gồm 2 loại: bảo tồn nguyên trạng và bảo tồn trên cơ sở có kế thừa. Bảo tồn nguyên vẹn ( bảo tồn trong dạng “tĩnh”) Bảo tồn nguyên vẹn dân ca Quan họ ở dạng “ tĩnh” là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại bảo đảm giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng.
Khi cần phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình video; xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể. Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng di sản văn hóa vật thể.