chương 1 chúng tôi đã đề cập đến: Cơ sở lí luận và thực tiễn của BTHH có nội dung liên quan đến thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng, cụ thể là: Lịch sử vấn đề nghiên cứu , Cơ sở lí luận về bài tập hóa họ c ,Cơ sở lí luận về bài tập hóa học thực tiễn , Năng lực và phát triển năng lực sáng tạo , Đặc điểm tình hình kinh tế –xã hội của Hải Phòng , Điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học có nội dung liên quan đến vi ệc dạy và học hóa học của GV và HS ở các trường THPT tại Hải Phòng 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 2 TUYỂN CHỌN VÀ SƢ̉ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN THƢ̣C TIỄN TẠI HẢI PHÒNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2. Nguyên tắc ,quy trình lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn 2. Nguyên tắc lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn a/ Bài tập thực tiễn phải phù hợp với mục tiêu và nội dung học tập Các bài tập thực tiễn cần có nội dung sát với chương trình mà HS được học .Nếu bài tập thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hóa học thì sẽ không tạo được động lực cho HS để giải bài tập đó. b/ Nội dung bài tập thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại.
+ trong một bài tập hóa học thực tiễn, bên cạnh nội dung hóa học nó còn có những dữ liệu thực tiễn. những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác không tùy tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán được. + Trong một số bài tập về sản xuất hóa học nên đưa vào các dây chuyền công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các công nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng. c/ Bài tập thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS.
Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến hóa học thì rất nhiều, rất rộng. Nếu bài tập hóa học thực tiễn có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời sống và môi trường xung quanh HS thì sẽ tạo cho các em động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải bài tập. Các em HS ở Hải Phòng có thể giải thích được câu hỏi: Quy trình đúc đồng diễn ra như thế nào? hay đất đèn dùng để làm gì ? hay để sản xuất xi măng Hải Phòng cần những nguồn nguyên liệu nào? HS với kinh nghiệm có được trong quá trình tham gia sản xuất và kiến thức hóa học đã có sẽ lựa chon phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình. HS sẽ có sự háo hứng chờ đợi GV đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình.
Trong bài tập này khi HS giải sẽ có một số khả năng xảy ra như sau: + HS lựa chọn và giải thích đúng. Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với HS vì kiến thức của mình rất đúng theo khoa học. 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + HS lựa chọn đúng nhưng không giải thích được hoặc giải thích chưa đúng. + HS lựa chọn và giải thích chưa đúng.
Trong trường hợp 2,3 HS sẽ cảm thấy tiếc nuối vì mình đã gần tìm ra câu trả lời từ đó có động lực để quan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức hóa học một cách linh hoạt hơn để giải thích thực tiễn hoặc thay đổi việc làm theo thói quen chưa đúng khoa học của mình vì những kinh nghiệm đúng thường có gắn với sự chính xác khoa học. d/ Phải đảm bảo logic sư phạm Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hóa học phổ thông trong chương trình nên khi xây dựng bài tập thực tiễn cho HS cần phải có bước xử lý sư phạm để làm đơn giản tình huống thực tiễn. Các yêu cầu giải bài tập tình huống thực tiễn cũng phải phù hợp với trình độ và khả năng của HS. e/ Bài tập thực tiễn phải có tính hệ thống, logic.
+ Các bài tập thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài, theo mức độ phát triển của HS. Trong mỗi chương bài cần có các loại, dạng bài tập thực tiễn. + Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ so với mức độ nhận thức của HS để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của HS. + Biến hóa nội dung bài tập thực tiễn theo tiếp cận mođun.
Xây dựng một số bài tập thực tiễn điển hình (Xây dựng theo tiếp cận mođun) và từ đó có thể lắp ráp chúng vào các tình huống thực tiễn cụ thể, nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡ bài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản, tạo ra những bài tập mới. Quy trì nh lựa chọn bài tập hóa học có nội dung thực tiễn Khi xây dựng bài tập thực tiễn GV cần lưu ý các vấn đề sau: Bước 1: + Phân tích mục tiêu của chương, bài để định hướng cho việc thiết kế bài tập. + Nghiên cứu kỹ nội dung các tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo về nội dung hóa học và các ứng dụng hóa học của các chất trong thực tiễn, tìm hiểu các công nghệ, nhà máy sản xuất có liên quan đến nội dung của bài. 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Nghiên cứu đặc điểm trình độ nhận thức của HS, kinh nghiệm sống của HS để thiết kế bài tập thực tiễn cho phù hợp, tạo hứng thú cho HS khi giải các bài tập thực tiễn đó.
Bước 2: + Thiết kế bài tập thực tiễn phù hợp với những yêu cầu ở bước 1. + Giải và kiểm tra lại bài tập thực tiễn. Dự kiến các cách giải của từng bài tập, dự kiến các cách giải của HS, dự kiến những sai lầm dễ mắc của HS trong quá trình giải và đưa ra cách khắc phục. Bước 3: Dự kiến thời điểm và phương pháp sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất.
Bước 4:Triển khai sử dụng BTTT trong dạy học hóa học Bước 5: Chỉnh lý hoàn thiện BTTT VD: Khi học bài “ các hợp chất của cacbon” GV có thể đưa hiện tượng tự nhiên cho HS giải thích a. Giải thích câu nói “Nước chảy đá mòn” b. Giải thích sự hình thành nhũ đá, măng đá trong các hang động ở Thủy Nguyên Đây là hiện tượng tự nhiên và câu nói quen thuộc mà HS đã biết trong cuộc sống (HS có thể dựa vào kiến thức đã học ở bài hợp chất của cacbon để giải thích các vấn đề trên) Bước 1: - Mục tiêu của bài: các hợp chất của cacbon không phải là mới đối với HS vì vậy mục tiêu của bài này là tìm hiểu các hợp chất này dưới ánh sáng của lý thuyết về cấu tạo chất, sự điện li, thuyết cân bằng hóa học, lý thuyết về p/ư OXH – K … từ đó phải vận dụng những kiến thức đã biết để giải thích những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, trong đời sống, cải tạo thiên nhiên, nâng cao hiệu suất lao động, bài trừ mê tín dị đoan, nâng cao chất lượng cuộc sống… - Tham khảo tài liệu về các vấn đề thực tiễn có liên quan đến các hợp chất của cacbon như: sản xuất vôi; tài liệu natri hidrocacbonat, đá vôi, thạch nhũ trong các hang động…. - Các hợp chất của cacbon rất quen thuộc đối với HS.Nhiều HS đã từng tham gia sử dụng chúng trong nông nghiệp, xây dựng, thuốc uống, phụ gia, thực phẩm… Bước 2: Thiết kế bài tập: xây dựng bài tập ở hai mức 3,4.
27 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com VD: Giải thích sự hình thành nhũ đá, măng đá trong các hang động ở Hang Lương - Thủy Nguyên - Hải Phòng Dự kiến cách giải: Trên đỉnh các hang động, núi đá vôi có các kẽ nứt rất nhỏ khiến nước mưa thấm dần xuống kết hợp với đá vôi và khí cacbonic trong không khí tạo thành muối canxi hidrocacbonat tan chảy xuống: CaCO3 + CO2 +H2O Ca(HCO3)2 Một phần muối canxi hidrocacbonat rơi xuống đất rồi mới chuyển thành đá vôi, qua nhiều năm tháng tạo thành măng đá. Ca(HCO3)2 CaCO3 + CO2 + H2O Dự kiến những sai lầm của HS: - HS có thể khó hiểu khái niệm măng đá nên cần có hình ảnh minh họa. - HS viết được PTHH nhưng giải thích có thể không mạch lạc. GV cần hướng dẫn các em cách trình bày ý nghĩ, lập luận của mình một cách có khoa học.
Bước 3: Bài tập này nên sử dụng để luyện tập hoặc giao bài tập về nhà. Bước 4: Triển khai sử dụng BTTT trong dạy học hóa học Bước 5: Chỉnh lý hoàn thiện BTTT 2. Sƣ̉ dụng bài tập thƣ̣c tiễn trong dạy học hóa học ở các trƣờng THPT 2. Sử dụng bài tập khi nghiên cứu tài liệu mới Trong giảng dạy chúng ta thường phải hướng dẫn học sinh nghiên cứu những vấn đề mà học sinh chưa được học từ trước hoặc chưa biết một cách rõ ràng, chính xác.
Ở những tiết học này học sinh tiếp thu nội dung kiến thức mới về khái niệm, định luật, tính chất lí hóa, ứng dụng của các chất, các phản ứng hóa học.hoặc có cách hiểu biết mới về kiến thức đã học, hoặc thấy rõ phạm vi giới hạn áp dụng kiến thức đã biết. a) Sử dụng bài tập hóa học nêu và giải quyết vấn đề Hiện nay dạy học nêu vấn đề đang là một phương pháp dạy học tích cực có hiệu quả rất cao trong việc hoạt động hóa người học, phát triển con người tự chủ sáng tạo, để giải quyết tốt các tình huống có vấn đề thì một trong những phương pháp tối ưu nhất là sử dụng bài tập. VD: Khi tiến hành điều chế clo khan trong phòng thí nghiệm bằng dd HCl đặc và KMnO4 học sinh quan sát sơ đồ thí nghiệm nhận xét. 28 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vấn đề đặt ra là tại sao bình rửa khí (1) là dung dịch NaCl bão hòa, bình (2) là dung dịch H2SO4 đặc, nếu thay đổi thứ tự có được không? Vì sao? Lọ đựng khí phải có bông tẩm NaOH, không có thì sẽ như thế nào, có thể cần thêm dụng cụ nào nữa để đảm bảo an toàn cho người làm thí nghiệm? Như vậy bài tập này có tính chất nêu vấn đề, làm cho học sinh phải vận dụng những tính chất của các chất đã học để giải quyết vấn đề đó.
Những vấn đề nêu ra như vậy nhằm kích thích tính tò mò, tư duy tích cực của học sinh.