CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU. BỐ CỤC ĐỀ TÀI. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ TRƯỚC ĐÂY.
CƠ SỞ LẬP LUẬN VÀ PHÂN TÍCH. RÀNG BUỘC NGUỒN TÀI TRỢ VÀ MỘT SỐ CƠ SỞ LẬP LUẬN. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT: MẪU HÌNH VA CHẠM VỚI THỊ TRƢỜNG TÍN DỤNG. Thuyết ràng buộc tài trợ.
Chu kỳ tăng trưởng suy thoái nền kinh tế. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. XỬ LÝ DỮ LIỆU.
TRÌNH BÀY KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. PHÂN TÍCH ĐƠN BIẾN. PHÂN TÍCH ĐA BIẾN. Phân tích khu vực Trable và Non-tradable.
Phân tích khu vực công nghiêp. 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 57 iii DANH MỤC HÌNH Bảng 1. Thống kê mô tả dữ liệu cho các khu vực Non-Tradable và Tradble trong giai đoạn 2008-2013.
Thống kê tƣơng quan giữa các biến. Kết quả hồi quy cho nhóm ngành Non-Tradable và Tradable với biến phụ thuộc là đầu tƣ vào tài sản dài hạn, sử dụng phƣơng pháp hồi quy Fixed Effect (FE) và Random Effect (RE). Kiểm định cho việc thích hợp của 2 phƣơng pháp chúng tôi sử dụng kiểm định Hausman. *, **, *** lần lƣợt là mức ý nghĩa tại 10%, 5%, 1%.
Độ lệch chuẩn trình bày dƣới hệ số hồi quy. Kết quả hồi quy cho nhóm ngành Non-Tradable và Tradable với biến phụ thuộc là đầu tƣ vào hàng tồn kho, sử dụng phƣơng pháp hồi quy Fixed Effect (FE) và Random Effect (RE). Kiểm định cho việc thích hợp của 2 phƣơng pháp chúng tôi sử dụng kiểm định Hausman. *, **, *** lần lƣợt là mức ý nghĩa tại 10%, 5%, 1%.
Độ lệch chuẩn trình bày dƣới hệ số hồi quy. Kết quả hồi quy cho nhóm ngành với biến phụ thuộc là đầu tƣ vào tài sản cố định, sử dụng phƣơng pháp hồi quy OLS với tƣơng quan không đồng nhất. *, **, *** lần lƣợt là mức ý nghĩa tại 10%, 5%, 1%. Độ lệch chuẩn trình bày dƣới hệ số hồi quy.
51 DANH MỤC BẢNG Hình 1. Tốc độ tăng trƣởng GDP của các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á. Lãi suất cho vay trong giai đoan 2000-2013. Trung bình mức độ phát triển đầu tƣ giữa hai khu vực Non-Tradable và Tradable trong giai đoạn 2008 – 2013.
Trung bình thay đổi hàng tồn kho trên vốn đầu tƣ. Trung bình biến động dòng tiền trên vốn đầu tƣ. Trung bình Tobin Q (Q) .Trung bình doanh thu trên vốn đầu tƣ (TS/K). Trung bình vốn luân chuyển trên vốn đầu tƣ (WC/K) .Trung bình tổng nợ trên vốn đầu tƣ (TD/K).
Trung bình đầu tƣ trên vốn đầu tƣ giữa các khu vực. Trung bình hàng tồn kho trên vốn đầu tƣ giữa các khu vực. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài Hầu hết các quốc gia đều từng trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc đại suy thoái.
Kéo theo đó là sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mà đƣợc xem nhƣ là vấn đề nghiêm trọng nhất trong thời đại ngày nay, cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự biến động trong chu kỳ kinh doanh doanh nghiệp. Những biến động của nền kinh tế toàn cầu trong những năm vừa qua đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, theo số liệu tổng cục thống kê cung cấp ƣớc tính năm 2013 con số gần 61.000 doanh nghiệp “khai tử” đƣợc xem là đỉnh cao của đà tăng liên tục số doanh nghiệp ngƣng hoạt động. Một thực tế mà không ít ngƣời phải suy nghĩ, và nhiều chuyên gia đã không giấu sự lo lắng và cho rằng đây là “nỗi đau”. Nền kinh tế Việt Nam đang thể hiện mức độ khủng hoảng dữ dội hơn cũng nhƣ phục hồi chậm hơn hẳn so với các quốc gia trong khu vực.
Và để khắc phục đƣợc những khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra thì chúng ta cần phải biết đƣợc vấn đề là ở đâu và nên bắt đầu giải quyết từ đâu cho hiệu quả? Đó là lý do thôi thúc nhiều tác giả là những nhà kinh tế hay chính trị gia bắt tay vào nghiên cứu. Cùng trong xu thế đó, bằng cách tiếp cận độc đáo dƣới góc độ vi mô doanh nghiệp để hiểu rõ vấn đề nền kinh tế Việt Nam hiện nay, bài nghiên cứu này tập trung giải quyết vấn đề độ nhạy cảm giữa mức độ phát triển đầu tƣ công ty và tính thanh khoản nội bộ bằng cách chia mẫu thành hai nhóm doanh nghiệp, khu vực Tradable (nhóm các doanh nghiệp sản xuất giao dịch thƣơng mại ở phạm vi quốc tế và có liên quan đến hoạt động xuất khẩu nhƣ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp sản xuất kinh doanh, thủy sản, khai khoáng…) và nhóm các doanh nghiệp thuộc khu vực Non-Tradable (nhóm các doanh nghiệp thuần túy kinh doanh nội địa nhƣ y tế, xây dựng, giáo dục, tiện ích công cộng…. Dựa trên những kết quả nghiên cứu ở Indonesia của Augustinus Prasetyantoko - một đất nƣớc có điều kiện kinh tế gần tƣơng đồng Việt Nam, tôi tiếp tục phát triển cho trƣờng hợp Việt Nam. Với đề tài “Mức độ phát triển đầu tư công ty dưới ảnh hưởng của những ràng buộc sau cuộc khủng hoảng gần đây ở Việt Nam” khá thú vị và mới 2 lạ, kết quả nghiên cứu đã phần nào đóng góp giá trị thực tiễn cũng nhƣ học thuật cho vấn đề nổi bật hiện nay dƣới cách tiếp cận khá độc đáo.
Kết quả nghiên cứu đƣa ra những phát hiện thú vị trong thời kỳ khủng hoảng, cả khu vực Tradable và Non-Tradable đều không có ràng buộc nguồn tài trợ đáng kể. Nhƣng trong thời kỳ sau khủng hoảng và toàn bộ thời kỳ, điều này dƣờng nhƣ không quá khó để nhận ra các doanh nghiệp Việt Nam đang thận trọng trong hành vi phát triển đầu tƣ do những ràng buộc trong nguồn tài trợ nội bộ của họ. Cả hai khu vực cơ bản có một sự xê dịch mức độ nhạy cảm giữa phát triển đầu tƣ và dòng tiền tài trợ một cách tƣơng đối; hơn nữa khu vực Non-Tradable là khu vực bị ràng buộc tài trợ để phát triển đầu tƣ hơn so với khu vực Tradable. Những phát hiện này khá tƣơng quan với các dự đoán lý thuyết khác nhau trƣớc đây, đặc biệt Tornell and Westermann (2002a, 2004), cho rằng khu vực Non-Tradable đƣợc kỳ vọng có mối quan hệ này do ít chịu sự ràng buộc nguồn tài trợ trong thời kỳ bùng nổ.
Tuy nhiên, sau khi kiểm định bài nghiên cứu cũng tìm thấy nợ cũng là biến số quan trọng trong duy trì đầu tƣ của các công ty ở Việt Nam. Bằng việc áp dụng phân tích dữ liệu bảng, những phát hiện mới của bài nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ hành vi của các công ty niêm yết ở Việt Nam, cũng nhƣ hành vi phát triển đầu tƣ của họ trong thị trƣờng không hoàn hảo và ràng buộc nguồn tài trợ. Mẫu nghiên cứu gồm 127 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán hoạt động ít nhất 5 năm giữa năm 2007-2013. Mục tiêu nghiên cứu Từ quan điểm hàn lâm, cuộc khủng hoảng tài chính gần đây nhƣ là một “câu đố” vừa thách thức vừa tạo cảm hứng cho nỗ lực nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế.
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đều đƣợc áp dụng để hiểu rõ cuộc khủng hoảng gần đây vốn đƣợc nhắc tới nhƣ là cuộc khủng hoảng thế hệ thứ ba. Tuy nhiên, nghiên cứu về nó vẫn còn chƣa hoàn chỉnh do hầu hết những hiện tƣợng đều rất phức tạp. Bài nghiên cứu có hƣớng giải quyết rất độc đáo khi xem xét về mức độ dễ tổn thƣơng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay xuất phát từ những bằng chứng ở mức độ vi mô đó là xem xét việc tiếp cận các cơ hội tài trợ bất cân xứng giữa khu vực Tradable và Non-Tradable ở Việt Nam có tác động đến quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp. Đối với 3 vấn đề này, Tornell và Westermann (2002a) đƣa ra lời giải thích thú vị: “Nhiều quốc gia có thị trƣờng tài chính tự do hóa, kết thúc một đợt bong bóng tín dụng ngay lập tức dẫn tới một cuộc khủng hoảng kép - khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng Khi đó, khủng hoảng tài chính trở nên rất trầm trọng và có thể dẫn tới khủng hoảng về kinh tế - xã hội”.
Bài nghiên cứu đề cập đến vấn đề tiếp theo, do việc tiếp cận các cơ hội tài trợ bất cân xứng để phát triển đầu tƣ có dẫn đến sự phát triển bất cân xứng của khu vực Tradabe và Non-Tradble là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bất ổn vĩ mô và tiềm ẩn một cuộc khủng hoảng sẽ bùng phát; liên quan vấn đề này, Tornell và Westermann (2002a, 2002b, và 2004) đƣa ra những giải thích làm sáng tỏ đó là do xảy ra đồng thời sự không hoàn hảo thị trƣờng tín dụng và sự phát triển không đồng đều giữa hai khu vực giống nhƣ hiện tƣợng phổ biến ở các nƣớc thu nhập trung bình (MICs) đã dẫn tới khủng hoảng tài chính. Đối với các nƣớc có liên quan, trong giai đoạn bong bóng tín dụng, khu vực Non- Tradable tăng trƣởng nhanh hơn khu vực Tradable, nhƣng ngƣợc lại, khu vực Non- Tradable phục hồi chậm hơn so với khu vực Tradable sau giai đoạn khủng hoảng. Để giải thích vấn đề này, bài nghiên cứu đƣa ra một câu hỏi khá đơn giản: “Liệu khu vực Non-Tradable có bị ràng buộc nguồn tài trợ nhiều hơn khu vực Tradable trong hành vi phát triển đầu tƣ sau cuộc khủng hoảng 2008 ở Việt Nam không?”. Câu hỏi này sẽ đƣợc làm sáng tỏ thông qua kiểm định mức độ phát triển đầu tƣ công ty có nhạy cảm với tính thanh khoản nội bộ hay dòng tiền, với việc tách mẫu thành 2 nhóm khác nhau.1 Những phát hiện bằng nghiên cứu thực nghiệm trở nên quan trọng trong việc giải thích mức độ tổn thƣơng của nền kinh tế vĩ mô, khi mức độ đầu tƣ công ty là biến chủ yếu trong chu kỳ kinh doanh hoặc biến động vĩ mô.
Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết câu hỏi giữa khu vực Tradable hay Non-Tradable, khu vực nào hoạt động tốt hơn trong giai đoạn trong và sau khủng hoảng, bài nghiên cứu áp dụng phƣơng 1 Bài nghiên cứu này là nỗ lực của Espanol (2005), áp dụng cách phân chia khu vực Tradable và Non tradable trong phân tích các công ty ở Argentia trong cuộc khủng hoảng tài chính. 4 trình hồi quy tƣơng đối chính xác nhằm đo lƣờng độ nhạy cảm giữa phát triển đầu tƣ ở cấp độ công ty và tính thanh khoản nội bộ.