CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Quyết định tài trợ của các công ty đã là chủ đề nhận được nhiều quan tâm nhất trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp ở những năm vừa qua do tầm quan trọng của quyết định tài trợ đối với chiến lược tăng trưởng và phát triển của một công ty (Salawu, 2007; Kayo và Kimura, 2011). Một vấn đề lớn mà các công ty cần đối mặt với quyết định tài trợ chính là sử dụng nợ hay vốn cổ phần.
Abor (2008) khẳng định rằng quyết định tài trợ vô cùng quan trọng vì ở hầu hết các nền kinh tế, vai trò của khu vực tư nhân thì luôn được đánh giá cao. Điều này do khu vực tư nhân đóng vai trò như là một bộ máy trọng yếu của việc thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế. Do đó, các quyết định tài trợ sai lầm có thể gây nguy hiểm cho nền kinh tế quốc gia. Abor (2008) cũng cho rằng khu vực tư nhân ở các nền kinh tế đang phát triển đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp việc làm cho người dân do đó sẽ có thể giúp quốc gia giảm nghèo, đây được xem là một trong những vấn đề lớn mà hầu hết các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt, đặc biệt là các quốc gia giống như Việt Nam.
Hơn thế nữa, như Salawu (2007) cũng đã cho rằng một trong các lý do chính yếu nhất làm cho các công ty ở các quốc gia đang phát triển thường phải đối mặt với vấn đề kiệt quệ tài chính và phá sản chủ yếu từ vấn đề tài trợ của công ty. Cho nên quyết định tài trợ của công ty trở nên quan trọng nếu các doanh nghiệp góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của một nền kinh tế. Hơn thế nữa, quyết định tài trợ đã trở thành một lĩnh vực được các nhà nghiên cứu quan tâm kể từ khi lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958) được công bố. Cấu trúc vốn có thể được định nghĩa như là một tập hợp nguồn vốn được công ty dùng để tài trợ cho các hoạt động của công ty và có hai dạng hình thức: vốn chủ sở hữu và nợ vay, mỗi loại hình thức vốn đều có ưu và nhược điểm riêng.
Sự lựa chọn vốn chủ sở hữu hay nợ vay có thể ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của một công ty 2 bao gồm khả năng sinh lợi, quyết định chi trả cổ tức và việc tài trợ các dự án đầu tư. Do đó, bất kỳ quyết định sai lầm nào liên quan đến việc lựa chọn cấu trúc vốn đều có thể có các tác động bất lợi đến hiệu quả hoạt động chung của công ty. Một quyết định thận trọng về cấu trúc vốn thích hợp sẽ giúp công ty cải thiện khả năng sinh lợi. Điều này giải thích tại sao trong thời gian gần đây, vấn đề liên quan đến chính sách tài trợ của công ty đã thu hút nhiều sự quan tâm đáng kể của cả giới học thuật lẫn giới kinh doanh (Kayo và Kimura, 2011).
Cho nên, các nhà quản lý tài chính cần thiết phải nghiên cứu xét một mức cấu trúc vốn tối ưu mà ở đó chi phí sử dụng vốn thấp nhất để đảm bảo việc tối đa hóa tài sản cho các cổ đông của công ty cao nhất. Một công ty được cho là có sử dụng đòn bẩy tài chính cao nếu các công ty sử dụng nhiều nợ vay hơn vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn của công ty và ngược lại. Tuy nhiên, có một số yếu tố mà các công ty cần phải quan tâm đến khi thực hiện quyết định lựa chọn nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động của công ty. Quan trọng hơn, khi các nghiên cứu trước đây cho rằng có một số yếu tố tác động đến quyết định tài trợ công ty, thì ý kiến của người đưa ra quyết định cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định tài trợ phù hợp hơn.
Mặt khác, các nghiên cứu trước đây khi phân tích về đòn bẩy tài chính hay mức độ sử dụng nợ thường sử dụng các yếu tố thể hiện đặc điểm doanh nghiệp như quy mô doanh nghiệp, thanh khoản, khả năng sinh lợi, thuế thu nhập doanh nghiệp, tấm chắn thuế phi nợ, cơ hội tăng trưởng, rủi ro kinh doanh và tuổi công ty. Các nghiên cứu này bao gồm Titman và Wessels (1988); Rajan và Zingales (1995); Booth và các cộng sự (2001); Chen (2004); Deesomsak và các cộng sự (2004); Buferna và các cộng sự (2005); Gaud và các cộng sự (2005); Huang và Song (2006); Antoniou và các cộng sự (2008); De Jong và các cộng sự (2008); Fathi và các cộng sự (2014); Handoo và Sharma (2014); Phạm Tiến Minh và Nguyễn Tiến Dũng (2015); Memon và các cộng sự (2015); Phan Thanh hiệp (2016); Võ Minh Long (2017); Phan Thị Quốc Hương (2017); Khemiri và 3 Noubbigh (2018). Hơn thế nữa, trong thời gian gần đây, các nghiên cứu đã có hướng nghiên cứu mới khi đưa thêm các yếu tố đại diện cho đặc điểm kinh tế vĩ mô vào mô hình nghiên cứu giải thích đòn bẩy tài chính hay mức độ sử dụng nợ của các công ty. Chẳng hạn như Delcoure (2007); Beck và các cộng sự (2008); Antoniou và các cộng sự (2008); De Jong và các cộng sự (2008); Frank và Goyal (2009); Kayo và Kimura (2011); Chipta và Mbululu (2013); Joeveer (2013); Taddese Lemma và Negash (2013); Muthama và các cộng sự (2013); Fathi và các cộng sự (2014); Memon và các cộng sự (2015); Khemiri và Noubbigh (2018).
Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam (Phạm Tiến Minh và Nguyễn Tiến Dũng, 2015; Phan Thanh Hiệp, 2016; Võ Minh Long, 2017; Phan Thị Quốc Hương, 2017) thì dường như chỉ tập trung vào các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp khi phân tích đòn bẩy tài chính hay mức độ sử dụng nợ của các doanh nghiệp ở Việt Nam mà không hoặc ít tập trung vào các yếu tố kinh tế vĩ mô. Cho nên tác giả lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô và đặc điểm công ty đến mức độ đòn bẩy tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ với mong muốn làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ đòn bẩy tài chính từ đó có thể đưa ra khuyến nghị giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có thể chủ động hơn. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô và đặc điểm công ty đến mức độ đòn bẩy tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam. Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu mà Luận văn đang hướng đến, đề tài đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau: Câu hỏi thứ nhất: Các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp bao gồm khả năng sinh lợi, quy mô doanh nghiệp, tài sản hữu hình, cơ hội tăng trưởng, thanh khoản, thuế thu nhập 4 doanh nghiệp, tấm chắn thuế phi nợ, tuổi công ty và rủi ro kinh doanh có tác động đáng kể đến mức độ nợ của các công ty phi tài chính niêm yết ở Việt Nam hay không? Câu hỏi thứ hai: Các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát, sự phát triển thị trường chứng khoán của Việt Nam có tác động đáng kể đến mức độ nợ của các công ty phi tài chính niêm yết ở Việt Nam hay không? 1.
Dữ liệu nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng tập hợp dữ liệu dạng bảng không cân đối (Unbalanced panel data), được thu thập từ cơ sở dữ liệu thứ cấp là các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 296 doanh nghiệp niêm yết trên hai Sở giao dịch chứng khoán lớn của Việt Nam là Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), với nguồn cơ sở dữ liệu được trích xuất từ FiinPro, trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2017. Từ cơ sở dữ liệu của hơn 700 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) đến thời điểm ngày 31/12/2017, bài nghiên cứu thu được bộ dữ liệu nghiên cứu bao gồm 296 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai Sở giao dịch trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2017. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết mục tiêu phân tích các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp và kinh tế vĩ mô tác động đến đòn bẩy tài chính của công ty, Luận văn sử dụng phương pháp định lượng. Trong đó, Luận văn áp dụng phương pháp tiếp cận mà Khemiri và Noubbigh (2018) đã dùng trong nghiên cứu của các tác giả khi phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô và đặc điểm doanh nghiệp đến đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp.
Theo đó, các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp bao gồm khả năng sinh lợi, quy mô doanh nghiệp, tài 5 sản hữu hình, cơ hội tăng trưởng, thanh khoản, thuế thu nhập doanh nghiệp, tấm chắn thuế phi nợ, tuổi công ty và rủi ro kinh doanh. Các yếu tố vĩ mô bao gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát, sự phát triển thị trường chứng khoán của Việt Nam. Hơn thế nữa, để ước lượng phương trình nghiên cứu, Luận văn sử dụng phương pháp ước lượng FGLS với mục đích khắc phục các vấn đề tồn tại trong hồi quy như tự tương quan, phương sai thay đổi. Kết cấu nghiên cứu Luận văn có 05 chương: Chương 01.
Giới thiệu nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu để người đọc hình dung hơn về đề tài. Hơn thế nữa, đề tài cũng sơ lược về dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu trong chương này. Khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm Đề tài tiến hành tổng quan lý thuyết trước đây khi giải thích mức độ đòn bẩy tài chính của các công ty bởi các lý thuyết như trật tự phân hạng, đánh đổi, đại diện, phát tín hiệu.
Hơn thế nữa, để có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố tác động đến đòn bẩy tài chính, đề tài tiến hành tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, qua đó tìm thấy có các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp và yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động đáng kể đến đòn bẩy tài chính. Phương pháp nghiên cứu. 6 Chương này sẽ trình bày rõ hơn về dữ liệu nghiên cứu bao gồm cả quy trình lọc mẫu nghiên cứu để đạt được mẫu nghiên cứu cuối cùng.