CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tôm thẻ chân trắng 1. Đặc điểm sinh học 1. Tên gọi Tên khoa học: Lipopenaeus vannamei hay Penaeus vannamei (Boone, 2011) Tên tiếng Anh: White Shrimp Tên tiếng Việt: Tôm thẻ chân trắng, tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc Tây châu Mỹ.
Phân loại khoa học Ngành: Arthropoda Lớp: Malacostraca Bộ: Decapoda Họ: Penaeidae Chi: Litopenaeus Loài: Lipopenaeus vannamei (Boone, 2011) 1. Nguồn gốc và phân bố Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei, tên gọi trước đây Penaeus vannamei) là một dạng của tôm panđan của vùng đông Thái Bình Dương thường được đánh bắt hoặc nuôi làm thực phẩm. Ở Việt Nam, tôm thẻ chân trắng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung Bộ đặc biệt là Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Tôm thẻ chân trắng là một trong những loài tôm được nuôi rộng rãi nhất trên thế giới.
Điều này là do chúng dễ nuôi và thời gian sinh trưởng nhanh, thời gian thu hoạch từ 120 ngày. Chấ t lươ ̣ng tôm thẻ chân trắ ng nuôi thường rấ t cao, vì có sự kiể m soát chă ̣t chẽ và không qua bảo quản như loại đánh bắ t từ biển. Đặc điểm hình thái Hình 1. Tôm thẻ chân trắng.
Nguồn: (Internet) Tôm thẻ chân trắng có màu trắng đục (hình 1.1) nên còn có tên là tôm Bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò có màu trắng ngà nên gọi là tôm chân trắng. Chùy là phần kéo dài tiếp với bụng. Dưới chùy có 2 – 4 răng cưa, đôi khi có tới 5 – 6 răng cưa ở phía bụng. Những răng cưa đó kéo dài, đôi khi tới đốt thứ hai.
(Boone, 2011) Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telson), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chùy khá dài đôi khi từ mép sau vỏ đầu ngực. Gờ bên chùy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị. Có sáu đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có. Gai đuôi không phân nhánh.
Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp. Xúc biện của hàm dưới thứ nhất thon dài và thường có 3 – 4 hàng, phần cuối cùng của xúc biện có hình roi. Gai gốc (basial) và gai ischial nằm ở đốt thứ nhất chân ngực. Môi trường sống Ở vùng biển tự nhiên, tôm thẻ chân trắng sống nơi đáy bùn, độ sâu khoảng 72 m, có thể sống ở độ mặn trong phạm vi 5 – 50‰, thích hợp ở độ mặn nước biển 28 – 34‰, pH = 7,7 – 8,3; nhiệt độ thích hợp 25 – 32oC.
Thành phần hóa học Tôm là loại thực phẩm được ưa chuộng trên thế giới, vì tôm có giá trị dinh dưỡng cao, thơm ngon hơn so với cá và một số động vật trên cạn. Thành phần hóa học của thịt tôm gồm: protein, lipid, glucid, chất khoáng, vitamin, enzyme và hormone. Thành phần có hàm lượng cao là nước, protein, lipid và chất khoáng, hàm lượng glucide trong tôm rất ít và tồn tại dưới dạng glycogen. Ngoài ra trong tôm còn chứa một lượng carbohydrate khoảng 1 – 2%.
(Nguyễn Trọng Cẩn, Đỗ Minh Phụng, 1990) 2 do an Bảng 1. Thành phần hóa học của tôm thẻ chân trắng Nguồn: (Vũ Trọng Cẩn, Đỗ Minh Phụng, 1990) Thành phần Đặc điểm Chiếm 70 – 80% trọng lượng tôm. Giúp thân tôm mềm, bóng mượt. Nước Là môi trường hoạt động của vi sinh vật.
Đóng vai trò quan trọng trong chế biến và bảo quản. Thành phần chủ yếu trong cơ thịt, chiếm 70 – 80% trọng lượng khô. Thành phần cấu tạo là các acid amin không thay thế (tryptophan, Protein lysine, threonine, isoleusine, leusine, phenylalanine, methionine, valine). Trong thịt tôm chứa rất ít mỡ, chiếm 0,3 – 1,4% trọng lượng tôm.
Lipid và glucid Hàm lượng glucid cũng rất ít. Chủ yếu là astaxanthin. Trong vỏ tôm astaxanthin kết hợp với protein Sắc tố có màu xanh tím. Trong thịt tôm có chứa một hàm lượng vitamin, đặc biệt là vitamin Vitamin nhóm B.
Nhóm vitamin này tan trong nước nên trong quá trình bảo quản và chế biến rất dễ bị thất thoát. Chất khoáng Trong thịt tôm gồm có các chất khoáng như: Fe, Ca, K, P… 1. Giá trị kinh tế Tôm thẻ chân trắng là loài có giá trị kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, sức đề kháng tốt, năng suất lớn, rất phù hợp với các loại hình nuôi thâm canh và bán thâm canh tại Việt Nam. Tuy vậy muốn có được năng suất tôm thẻ chân trắng cao, người nuôi cần phải áp dụng đúng đắn các kỹ thuật để tránh trường hợp tôm thẻ chân trắng chậm lớn.
Năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử xuất khẩu thủy sản Việt Nam, tôm thẻ chân trắng đã vượt qua tôm sú cả về sản lượng lẫn giá trị (diện tích thả nuôi ở 30 tỉnh thành cả nước trên 66.000 hecta, sản lượng đạt gần 300.000 tấn), trở thành mặt hàng chủ lực trong cơ 3 do an cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tôm đạt khoảng 3 tỷ USD thì tôm thẻ chân trắng chiếm gần 60%. Các biến đổi trong quá trình bảo quản lạnh tôm thẻ chân trắng Tôm nguyên liệu sau khi chết dưới tác dụng của các enzyme nội tại và hoạt động của các vi sinh vật trong cơ thịt tôm, xảy ra hàng loại những biến đổi phức tạp đặc biệt là những biến đổi sâu sắc về mặt hóa học, đó là quá trình tự phân giải, phân hủy tự nhiên làm cho nguyên liệu bị biến chất hoàn toàn không sử dụng được nữa. Sự biến đổi của cơ thịt tôm nguyên liệu sau khi chết gồm các quá trình cơ bản sau: sự tiết chất nhớt ra ngoài cơ thể, sự phân giải glycogen (glycolysis), sự tê cứng của cơ thịt (rigor mortis), sự mềm hóa, tác dụng tự phân giải (autolysis), sự thối rữa (putrefaction).
Những biến đổi này không tuân theo một thứ tự nhất định, mà chúng thường gối lên nhau. Các quá trình biến đổi đó hoặc là song song hoặc là cuối quá trình này đã bắt đầu quá trình khác nối tiếp nhau. Quá trình biến đổi hóa sinh Sự phân hủy Adenosintriphosphate (ATP) Dưới tác dụng của các enzyme nội tại ATP trong mô cơ thịt tôm bị phân hủy rất nhanh. Hàm lượng của Inosinmonophosphate (IMP) trong cơ thịt sinh ra trong quá trình phân hủy ATP giảm làm mất dần mùi thơm đặc trưng của tôm tươi.
Tốc độ của quá trình phân hủy ATP phụ thuộc nhiều vào giống loài tôm, vị trí cơ thịt trên cơ thể tôm, quá trình đánh bắt, xử lý và bảo quản tôm. (Nguyễn Trọng Cẩn, Đỗ Minh Phụng, 1990) Sự phân giải glycogen Tôm sau khi chết glycogen trong cơ thể dần bị phân giải. Quá trình phân giải glycogen là một quá trình kị khí phức tạp xảy ra bằng con đường Embden – Meyerhof – Parnas dưới tác dụng của các enzyme nội tại. Glycogen phân giải sản sinh ra acid lactic làm cho pH cơ thịt thay đổi.
Sự acid hóa môi trường này có tác dụng hạn chế phần nào sự phát triển của vi sinh vật gây thối rữa. Những biến đổi của các chất đường và các đường chứa phospho trong mô cơ làm mất dần vị ngọt và hương vị đặc trưng của thịt tôm tươi. Quá trình biến đổi hóa học Biến đổi pH của cơ thịt Acid lactic được tạo thành trong điều kiện phân giải yếm khí glycogen là nhân tố cơ bản làm giảm trị số pH cơ thịt tôm sau chết. Ngoài ra, sự biến đổi của trị số pH cơ thịt tôm cũng phụ thuộc vào quá trình giải phóng ra các phospho vô cơ và amoniac, từ sự phân hủy của ATP dưới tác dụng của các enzyme nội tại, và phụ thuộc vào trị số pH ban đầu của mô cơ.
Trị số pH ban đầu của cơ thịt tôm phụ thuộc vào đặc tính giống loài, mùa vụ đánh bắt, điều kiện dinh dưỡng và mức độ trưởng thành của tôm. (Smolina, 1971) Trong các giai đoạn sau của quá trình biến đổi, sự phân hủy của các hợp chất chứa nito dưới tác dụng của enzyme nội tại và các vi sinh vật dẫn đến sự gia tăng trị số pH trong thịt tôm. Tốc độ biến đổi của trị số pH nhìn chung phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ (Reilly, 1985). Sự oxy hóa lipid Oxy hóa lipid chủ yếu là phản ứng hình thành các hợp chất như hydroperoxide (HPO) và các gốc peroxide.
Các sản phẩm sơ cấp thường trải qua các phản ứng, để tạo thành hợp chất ổn định hơn như acid hydroxy hoặc epoxit. Các hợp chất như acid hydroxy có thể tạo ra vị đắng. Lipid oxy hóa có thể phản ứng với các amin, acid amin và protein để tạo thành sản phẩm đại phân tử màu nâu. Màu nâu được hình thành là do sự ảnh hưởng chủ yếu bởi mức độ acid béo không bão hòa, hoạt độ nước, áp suất oxy, và sự hiện diện của các hợp chất phenolic.
(Frankel, 1998) Quá trình peroxide hóa cũng có thể được xúc tiến bởi oxygen đơn bội. Lipid hydroperoxide bị phân hủy thành rất nhiều sản phẩm aldehyde. Trong đó, hợp chất malondialdehyde (MDA) là sản phẩm aldehyde phổ biến nhất và được xem là dấu hiệu của quá trình peroxide hóa lipid. (Frankel, 1998) Sự biến đổi của protein Sự biến đổi protein ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của tôm.
Dưới sự tác dụng của các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, trong đó quá trình thủy phân và phân giải protein diễn ra nhanh và dễ dàng. Protein của tôm sau khi bị phân hủy sinh ra NH3. NH3 là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ phân hủy protein, mức độ tươi, mức độ hư hỏng của tôm khi bảo quản. Sau khi chết, tùy điều kiện nhiệt độ, vi sinh vật, sự nguyên vẹn cấu trúc của tôm, mà những biến đổi sau khi chết xảy ra với những tốc độ khác nhau, NH3 trong thịt tôm tích 5 do an tụ tăng lên, có khi rất cao, làm nguyên liệu biến màu và có mùi khó chịu.
(Menabrito et al. Quá trình biến đổi vi sinh Nguyên liệu sau khi chết thì các quá trình tổng hợp trong cơ thể sẽ ngừng lại, enzyme trong các tổ chức cơ thịt sẽ tiến hành quá trình tự phân giải, đồng thời lúc đó vi sinh vật sẽ phân hủy những sản phẩm của quá trình tự phân giải thành những sản phẩm bậc thấp, làm cho nguyên liệu biến chất hư hỏng. Các quá trình trao đổi chất của vi sinh vật làm phân hủy hoàn toàn các protide thành amine, sulfide, alcohol, aldehyde, xeton và các axit hữu cơ gây mùi khó chịu và không được chấp nhận. Sự hình thành melanosis và hiện tượng biến đen Melanosis (sắc tố đen) xuất hiện trong động vật giáp xác bảo quản lạnh và lạnh đông chỉ trong một vài giờ sau khi đánh bắt (Montero et al.