CHƯƠNG 1 NHŨNG TÈÊN ĐÊ LỊCH sử , VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA s ư GIAO LƯU GIỮA HAI NÊN VĂN HỌC PHÁP V Ệ T. L L Hoàn cảnh lich sứ - N h ữ n s tiền dề văn hóa x ã h ô i dần ỉần tớ i sư iỉiao lưu giữa h a i nền văn h o c Pháp - Vièt. Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, thực dân Pháp tảng cường củng cổ chế độ thuộc địa ờ Việt Nam đồng thời đẩy mạnh quá trình khai thác tài nguvên và nhàn lưc rẻ mạt ờ Việt Nam và Đôns Dươns. Thực dán Pháp khủng bố dã man các phong trào khởi nghĩa yêu nước.
Chúng dập tắt khởi nghĩa Yên Thế năm 1927. Chúng đưa Nguvễn Thái Học, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng lẻn đoan đầu đài tại Yên Bái nãm 1930. Chúnư bất giam Phan Bội Châu, Lãnh tu phong trào Đỏng Du và đưa về an trí tại Huế năm 1925. Chúna dìm các cuộc nổi dậy của công nhân và nông dân của cao trào Xô Viết nghệ Tĩnh (1930 - 1931) trong biển máu.
Nhưng các phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam dần dần được tập hợp dưới ngọn cờ của Đảng cộng sản Đôns Dươna, trường thành trong cao trào mặt trận Dân chủ Đông Dươnsĩ 1936 - 1939 và cao trào Việt Minh 1941 - 1945. Cách mạng Việt Nam đánh một dấu son chói lọi vào ngày 2 -9 - 1945, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Tất cả nhũng sự kiện lịch sử ấy ít nhiều ánh hường trực tiếp hhoặc gián tiếp tới sáng tác văn học của thời kỳ này, ảnh hường đến thế giới quan và 15 khuynh hướng sáng tác của các nhà văn, nhà thơ lớn của Việt Nam, cho đù họ ờ khuynh hướng lãng mạn, hiện thực hay là văn học cách mạng. Cùng với gót giầy xâm lược của lính viễn chinh Pháp, lối sống, văn hóa và kỹ thuật phương Tây đã tràn vào Việt Nam tác động mạnh mẽ đến đời sốna của mọi tầng lớp nhãn dân Việt Nam từ khoảng nửa cuối thế kỷ XIX (1858 - 1900).
Nhưng có lẽ ảnh hưởng của chế độ thuộc địa được thể hiện rõ nét nhất từ những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945, sau khi thực dân Pháp tăng cường chính sách khai thác thuộc địa nhàm bóc lột dân bản xứ, phục vụ cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945). Tăng cường khai thác tài nguyên ờ Việt Nam, thực dân Pháp đã làm biến đổi bộ mặt xã hội của Việt Nam. Từ một xã hội phong kiến với sản xuất nông nghiệp thuần túy, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thực dân nửa phong kiến. Một số đô thị lớn hình thành và phát triển: Hà Nội, Nam Định, Hải phòng,Huế, Sài Gòn.
Những truna tâm công nghiệp với nếp sống đô thi thu hút dân nghèo ở nông thôn ra kiếm việc làm. Từ đó, thành phần giai cấp trong xã hội Việt Nam cũng thay đổi. Bên cạnh giai cấp nông dân vẫn tiếp tục canh tác theo lề thói cổ xưa để nộp sưu thuế cho chế độ bảo hộ của Pháp và chính quyền phong kiến triều Nguyễn, giai cấp công nhân cũng đang hình thành và lớn manh song song với tầng lớp dân nghèo thành thị, trí thức tiếu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc. Thực dân Pháp ra sức tuyên truyền cho việc"khai hóa văn minh” của mẫu quốc Đại Pháp.
Các trường Pháp Việt được thành lập. từ nám 1896 - Pháp xóa bỏ chế độ thi cử bằng chữ Hán tại Nam Kỳ, năm 1918 tại Truna Kỳ. Các sách báo khoa học kỹ thuật, văn học, triết học của Pháp và của phương 16 p i. ' V- ư / « Tây được dịch sang chữ quốc neữ và đăng tải trên các báo" Đông dương tạp chí", "Nam phong", "Phụ nữ tân văn", "Phong hóa".Một tầng lớp trí thức Tây học hình thành với những cây bút có tên tuổi: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản ( trước 1900), Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyen Tường Tam (từ khoảng 1920 đến 1945) Về vấn đề này đồng chí Trường Chinh đã phát biểu: "Trong vòng nứa thế kỷ nãy, văn hóa nước ta chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp nhiều nhất.
Song văn hóa Pháp có hai bộ phận: văn hóa phản động của bọn thực dân, đ ế quốc và văn hóa tiến bộ của nhân dân Pháp - Không nên nhìn nhận một chiều mà phủ nhận tất cả ảnh hưởng tiến bộ của vân hóa Phấp. Trong lịch sử, kẻ bị chừih phục chống lại kẻ đi chừih phục nhưng đồng [hời học hỏi những cái hay của nước đi chừih phục mình để tiến cũng là sư thường. Khi ta chống chính sách vẫn hóã thâm độc của thực dân Pháp, tã đã không quên tiếp thu từih hoa của văn hóa dân chủ Pháp.Văn chươns, hội họa, nhạc, kịch, kiến trúc. của ta đã mang dấu vết của vân học, nghệ thuật tiến bộ Pháp'.[ 103a -tr 61 ] Kể từ đây, xã hội Việt nam có nhữna thay đổi đến chóng mặt.
Hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến của Việt Nam, người Việt Nam coi người quàn tử với lý tướng "tu thân, tề gia, tri quốc, bình thiên hạ" làm khuôn vàng thước ngọc. Naười Việt Nam coi nền văn học Trung Quốc với Đường thi. Tống thi là mẫu mực và lấy đó làm thước đo tri thức để lựa chọn tài năng. Người Việt nam coi Khổng Tử là một thánh nhản vĩ đại và lễ giáo của đao Khổng là một khoảng trời bất di bất dịch mà bất kỳ người nho sĩ nào muốn thành đạt cũng phái nghiêng mình tôn kính.
17 Đến thời kỳ này, tầm mắt của người Việt Nam được mờ rộng. Họ có thể tiếp tục học hỏi ờ Khổng giáo và Phật ơịáo nhung đồng thời cũng có thể học hỏi những quan điểm triết học của các nhà Khai sáng như Montesquieu, Diderot, Voltaừe, Rousseau (Môngtetxkiơ, Điđơrô, Vonte, Rutxô). Về vãn học người Việt Nam vằn có thể học hỏi những bài thơ Đường cổ điển của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Thôi Hiệu, Vương Bột như các nho sĩ từ thế kỷ trước, nhưng đồne thời, họ cung tiếp thu những tư tường nhân văn của các nhà văn nhà thơ lớn của nước Pháp như: Hugo, Musset, Sten'dhal, Balzac, Flaubert, Baudelaừe, Rimbaud, Verlaứe, André Gide (Huygô, Muytxê, Xtăngđan, Bandắc, Flôbe, Bôđơle, Ranhbô, Véclen, ẢngđrêGiđơ). Chính từ ảnh hường của các đô thị và nhà trường Pháp Việt, sách báo và tác phẩm ván hoc Pháp, một thế hệ thanh niên Việt Nam với tư duy mới, với nhu cầu thẩm mỹ mới được hình thành.
Trong số họ những người xuất sác trở thành những nhà thơ, nhà vãn lớn của văn học lãng mạn: Vũ Đình Liên, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh, đa số còn lại trờ thành chỗ dựa vững chắc cho những quan niệm sống, quan điểm thẩm mỹ mới chưa từng thấy xuất hiện trên đất này. Họ là những bạn đọc nhiệt thành của văn học lãng mạn. (Theo thống kè của Niên giám Đông Dương: năm 1921 - 1922, ờ Việt Nam có 189.130 giáo viên, công chức, học sinh, sinh viên. Đến năm 1932 - 1933 con số đó lên tới 352.
369 nsuời) Về ngôn ngữ, còng cu số một của vãn học, mặc dù cho đến năm 1918, thực dân Pháp mới xóa bỏ các kỳ thi Hán học ờ Trung kỳ. Nhưnơ sư thưc việch hình thành chữ quốc nưữ đã phôi thai từ trước 1858. Trước khi có cuộc 18 xâm lăng bằng sức mạnh quân sự của người Pháp, chúng ta có bằng chứng về cuộc xâm lăng về tôn giáo và tư tưởng của các nhà truyền giáo phươns Tày. AlêchxăngđơRốt - nhà truyền giáo phương Tây có công lớn trong việc phiên âm tiếng Việt sang chữ La tinh với mục đích truvền đạo.
Từ nám 1651, cuốn " Từ điển Annum, Bôđàonha và Latinh" đã được in ờ La mã. - Theo tài liệu của Xuân Lê báo" Người công giáo Việt Nam" số 15 (1 tháng 8 năm 1995). Năm 1906, Vua Thành Thái ra đạo dụ đưa chữ quốc ngữ vào chươnơ trình học và thi. Chúng ta cần khảng định là: Văn hoc Pháp ảnh hướng tới văn hoc Viẽt Nam là ảnh hường tỏi nền văn hoc Viêt Nam đươc viết bang chữ quốc ngữ.
Theo ông Nguyễn Văn Xung, nền văn học chữ quốc ngữ có thể chia làm ba giai đoạn chính yếu: 1. Giai đoạn phổ biến văn tư từ khi phát sinh cho đến năm 1913. Giai đoạn biên khảo và phê bình từ năm 1913 đến năm 1932. Giai đoạn sáng tác từ năm 1932 cho đến ngày nay".
[143 - tr3] Theo chúng tôi. ảnh hường của văn học Pháp đã có mầm mòng từ trước thời kỳ 1930 do sự ra đời của báo chí bằng chữ quốc ngữ Thưc nghiệp dân báo"- 1920; "Khai hóa" "Hữu thanh” - 1921; "An nam tãp chí" - 1926; " Tiếng dân" - 1927; "Thần chung" - 1929; "Phu nữ tân văn" - 1929; "Đông tây tuần báo " 1929. Một nguyên nhàn quan trọng có ảnh hướng tới trí tuệ và tàm hồn con người Việt Nam, liên quan tới mối giao lưu giữa một nên văn học viết bằng chữ quốc ngữ với văn học Pháp, giữa triết học phương Đôníĩ và phươna Tây 19 là công việc dịch thuật và biên khảo các tác phẩm văn học , triết học Pháp sang chữ quốc ngữ. Con? đầu trong sứ mệnh lịch sử này phải kế đến hai tờ báo "Nam phons", "Đông dương tạp chí” và nhà xuất bản " Âu Tây tư tướng." " Nam phong tạp chí" ra đời từ năm 1917, đến năm 1934 thì đình bản.
Tạp chí do Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác sáng lập, được sự ủng hộ của Louis Marty (Luit Mácty), một viên quan cai trị người Pháp. Sách dịch được đăng trên " Nam phons tạp chí" chủ yếu là sách văn học và triết học. Sau đây là một số dẫn chứng cụ thể: "Văn học nước Pháp và khảo về tiểu tuyết". Phạm Quỳnh - Nam phong tùng thư 1929.
"Pháp văn thi thoại: Baudeỉaứe tiên sừìh " Phạm Quỳnh - Nam phong số 6 -(12 / 1917) "Một nhà danh s ĩ nước Phấp: Ông Pieire Lo ti" Phạm Quỳnh - Nam phong số 72 - tháng 6/1929 "Một nhà văn hào nước Pháp: Ông Anatole France " Pham Quỳnh - Nam phona số 161 - tháng 4/193 1 Từ nám 1929 Phạm Quỳnh đã dịch và đăng trên tạp chí Nam phong các tác phẩm văn học: " Ôi - thiếu niên " của G - Courteline, "Ái tình " của Guy de Maupassant, " Cái buôn của một tên tù già", "Thương M o "của p. Về kịch; Nam phong cũna dịch và bình luân khá nhiều: "Chàng ngốc hóa thôn vì tình Hài kịch của Marivaux.