Tổng quan luận án
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn với đề tài "Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945" do nghiên cứu sinh Đào Trọng Thức thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Phan Cự Đệ, bảo vệ năm 1996 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành: Văn học Việt Nam, Mã số: 50433).
Văn bản xác định tính cấp thiết xuất phát từ quy luật khách quan trong lịch sử văn học về sự giao lưu giữa các nền văn học dân tộc. Dòng văn học lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 giữ vị trí trọng yếu trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam. Việc nghiên cứu tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài gắn liền với bảo tồn bản sắc dân tộc là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh đổi mới văn hóa - xã hội. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: dù ảnh hưởng của văn học Pháp đã được nhiều nhà phê bình và sáng tác thừa nhận với nhiều kiến giải cụ thể, giới nghiên cứu trước đó vẫn chưa có công trình tổng kết toàn diện, có hệ thống về các dấu hiệu ảnh hưởng của văn học Pháp trên cả hai bộ phận thơ ca và văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể:
- Xác định đúng đắn vai trò của văn học Pháp kết hợp với văn học Trung Quốc, tinh hoa văn học viết và văn học dân gian Việt Nam cùng cao trào Duy tân trong việc làm thay đổi diện mạo văn học, hình thành nền văn học Việt Nam hiện đại; tránh hai khuynh hướng sai lệch: coi văn học Pháp là động lực duy nhất hoặc phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của văn học Pháp.
- Khảo sát các dấu hiệu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với thơ ca lãng mạn 1930 - 1945: sự thâm nhập vào thế giới nội tâm, cảm giác; niềm say mê ngoại giới; nỗi cô đơn của cá thể trước không gian và thời gian; sự chuyển biến từ tính phi ngã sang cái Tôi cá thể hóa; các đổi mới về ngắt nhịp, bút pháp biểu cảm, ảnh hưởng của trường phái lãng mạn và tượng trưng cùng các tuyên ngôn nghệ thuật.
- Khảo sát các dấu hiệu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945: nội dung đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, khẳng định quyền tự do cá nhân, triết lý sống cực đoan và tư tưởng xê dịch; sự đa dạng hóa thể loại (phóng sự, ký sự, tùy bút, truyện ngắn, tiểu thuyết tâm lý); nghệ thuật tổ chức cốt truyện, phân tích tâm lý nhân vật và miêu tả cảnh vật thiên nhiên mang màu sắc hội họa.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những dấu hiệu ảnh hưởng của văn học Pháp (tập trung từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) đối với dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Phạm vi thời gian trọng tâm là giai đoạn 1930 - 1945, có đối chiếu với các tiền đề lịch sử - văn hóa từ cuối thế kỷ XIX, giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX và khảo sát hệ thống tư liệu nghiên cứu liên quan đến năm 1996.
| Tiêu chí |
Thông tin trích xuất từ luận án |
| Tên đề tài |
Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 |
| Tác giả & Người hướng dẫn |
Đào Trọng Thức — Hướng dẫn: GS. Phan Cự Đệ |
| Học vị & Cơ sở đào tạo |
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn — ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội (1996) |
| Chuyên ngành & Mã số |
Văn học Việt Nam — Mã số: 50433 |
| Loại hình & Phương pháp |
Nghiên cứu định tính; Lịch sử cụ thể, Loại hình học, Văn học so sánh |
| Phạm vi khảo sát |
Văn học Pháp (thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) và Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề theo ba giai đoạn chính:
Giai đoạn 1930 - 1945: Hoài Thanh và Hoài Chân trong tập Thi nhân Việt Nam (1942) với tiểu luận Một thời đại trong thi ca đã nhận định thi ca Việt Nam trong khoảng 10 năm đã diễn lại lịch sử 100 năm của thơ Pháp (từ lãng mạn đến Parnasse/Thi sơn, tượng trưng); chỉ ra sự xuất hiện của cái Tôi cá nhân và ảnh hưởng của các tác giả Pháp như Charles Baudelaire, Sully Prud'homme, Albert Samain, Leconte de Lisle đối với Lan Sơn, Đoàn Văn Cừ, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong bộ Nhà văn hiện đại (1942) đã phân tích ảnh hưởng của văn học Pháp đối với kịch của Đoàn Phú Tứ (chịu ảnh hưởng từ Henri Duvernois, Alfred de Musset, Sacha Guitry), bình luận tập Danh văn Âu Mỹ của Nguyễn Giang khi dịch Musset, Victor Hugo, Pierre de Ronsard, Baudelaire, đồng thời so sánh phong cách Khái Hưng với Musset, Nguyễn Tuân với Marcel Proust và Ivan Turgenev. Trên báo Ngày nay và tạp chí Thanh nghị, các tác giả Xuân Diệu, Thạch Lam, Đinh Gia Trinh, Lê Huy Vân đã giới thiệu các tư tưởng của Henri Bergson, Marcel Proust, André Gide, Baudelaire.
Giai đoạn 1945 - 1975: Năm 1948, trong báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam tại Đại hội văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, đồng chí Trường Chinh đã phân định rõ hai bộ phận: văn hóa phản động của thực dân đế quốc và văn hóa tiến bộ của nhân dân Pháp, khẳng định việc tiếp thu tinh hoa văn hóa dân chủ Pháp trong văn chương, nghệ thuật. Năm 1966, Giáo sư Phan Cự Đệ công bố chuyên luận Phong trào Thơ mới, phân tích quan niệm và đặc trưng thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn và tượng trưng Pháp thế kỷ XIX, lý giải ảnh hưởng của hai khuynh hướng này và chỉ ra sự kết hợp giữa thi pháp thơ Pháp với thơ Đường trong sáng tác của Xuân Diệu. Các nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, Bạch Năng Thi, Đỗ Đức Dục, Hoàng Trinh cũng đề cập đến vấn đề này trong giáo trình và các bài báo. Tại các đô thị miền Nam trước 1975, các tác giả như Võ Long Tê (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại), Bùi Xuân Bào, Đặng Tiến, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Phan Anh, Bửu Ý, Nguyễn Văn Xung đăng tải nhiều tiểu luận trên các tạp chí Văn, Văn học, khảo sát ảnh hưởng văn học Pháp ở các tác giả Nhất Linh, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân.
Giai đoạn sau 1975 đến 1996: Kể từ năm 1980, việc đánh giá dòng văn học lãng mạn 1930 - 1945 được mở rộng thông qua các công trình: Tự lực văn đoàn con người và văn chương (Phan Cự Đệ sưu tầm, giới thiệu, 1990), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên, 1993), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Thơ văn Hàn Mặc Tử (phê bình và tưởng niệm). Các nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Đặng Anh Đào, Mã Giang Lân, Phạm Quang Long cùng các nhà thơ Huy Cận, Anh Thơ, Tế Hanh đã có những kiến giải sâu về giao lưu văn học Pháp - Việt.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn tập trung khảo sát mảng thơ ca hoặc khảo sát riêng lẻ từng tác giả, tác phẩm; chưa có một chuyên luận tổng hợp, bao quát đầy đủ các phương diện ảnh hưởng của văn học Pháp đối với cả hai bộ phận thơ ca và văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng cách tổng kết, hệ thống hóa và bổ sung các nhận định khoa học mang tính cân bằng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các nền tảng lý thuyết và nguyên tắc phương pháp luận sau:
- Quan điểm Mác-xít về chủ nghĩa lãng mạn: Vận dụng nhận định của Karl Marx và Friedrich Engels xem chủ nghĩa lãng mạn là sự phản ánh ý thức thẩm mỹ của thời kỳ lịch sử quá độ phức tạp. Luận án phân biệt hai dòng lãng mạn trong văn học Pháp: lãng mạn tiêu cực/bảo thủ (François-René de Chateaubriand, Alfred de Vigny, Joseph de Maistre) gắn với tư tưởng quý tộc hoài cổ, và lãng mạn tích cực (Victor Hugo, George Sand, Alfred de Musset, Jean-Jacques Rousseau) gắn với tinh thần dân chủ, nhân văn. Việc tiếp thu được nhìn nhận dưới nguyên tắc kế thừa có phê phán.
- Lý thuyết về chủ nghĩa tượng trưng Pháp: Khảo sát hệ thống quan niệm của Charles Baudelaire về biểu tượng (symbole) và thế giới tiên nghiệm, thuyết tương hợp cảm giác (correspondances / unité de sens); luận điểm của Arthur Rimbaud về sự hỗn loạn có ý thức của mọi giác quan (dérèglement de tous les sens); và nguyên lý đề cao chất nhạc trong thi ca (De la musique avant toute chose) của Paul Verlaine.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể: Đặt các hiện tượng văn học vào tiến trình lịch sử xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945; khảo sát sự vận động của từng tác giả qua các thời kỳ (sự chuyển biến của Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân Sanh, nhóm Tự lực văn đoàn, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ).
- Phương pháp nghiên cứu loại hình (cấu trúc loại hình): Phân tích cấu trúc đồng đại và lịch đại trong kết cấu, cốt truyện, thể loại của văn xuôi và thơ ca từ truyền thống đến hiện đại.
- Phương pháp văn học so sánh: So sánh đối chiếu các tác phẩm văn học Pháp và văn học lãng mạn Việt Nam nhằm làm rõ các nét tương đồng, tiếp biến, và sự giữ gìn bản sắc riêng của văn học dân tộc.
- Nguồn tư liệu: Văn bản tác phẩm văn học Pháp và Việt Nam; hệ thống báo chí, tạp chí chữ quốc ngữ đầu thế kỷ XX (Nam phong, Đông dương tạp chí, Phụ nữ tân văn, Phong hóa, Ngày nay, Thanh nghị); các tài liệu văn hóa xã hội và Niên giám Đông Dương (Annuaire statistique de l'Indochine).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những tiền đề lịch sử, văn hóa xã hội của sự giao lưu giữa hai nền văn học Pháp - Việt
Chương 1 phân tích các điều kiện lịch sử, xã hội và văn hóa dẫn tới sự tiếp xúc văn học giữa Pháp và Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945:
- Hoàn cảnh lịch sử và biến đổi xã hội: Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau các cuộc bình định quân sự đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam từ phong kiến thuần nông sang thực dân nửa phong kiến. Các đô thị lớn hình thành (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn), kéo theo sự xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp mới: công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản và tầng lớp trí thức Tây học.
- Sự phát triển của chữ quốc ngữ và báo chí: Luận án dẫn chứng quá trình định hình chữ quốc ngữ từ công trình từ điển năm 1651 của Alexandre de Rhodes đến đạo dụ của Vua Thành Thái năm 1906 đưa chữ quốc ngữ vào học và thi; chính quyền bảo hộ bãi bỏ chế độ thi cử bằng chữ Hán ở Nam Kỳ (1896) và Trung Kỳ (1918). Nền văn học chữ quốc ngữ hình thành và phát triển qua hệ thống báo chí: Đông dương tạp chí (1913), Nam phong tạp chí (1917 - 1934), Thực nghiệp dân báo (1920), Khai hóa (1921), Hữu thanh (1921), An nam tạp chí (1926), Tiếng dân (1927), Thần chung (1929), Phụ nữ tân văn (1929), Đông tây tuần báo (1929).
- Hoạt động dịch thuật và tiếp nhận văn hóa phương Tây: Nam phong tạp chí do Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác phụ trách đã giới thiệu các tác giả văn học và triết học Pháp như Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Auguste Comte, Henri Bergson, Guy de Maupassant, Pierre Loti, Anatole France. Nhóm Đông dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine, truyện Charles Perrault, kịch Molière (Trưởng giả học làm sang, Giả đạo đức, Người bệnh tưởng, Người biển lận), tiểu thuyết Alexandre Dumas (Ba người ngự lâm pháo thủ), Abbé Prévost (Manon Lescaut), Victor Hugo (Những người khốn nạn), Honoré de Balzac (Miếng da lừa). Bên cạnh đó là sự xuất hiện của kịch nói phương Tây (vở kịch Người bệnh tưởng diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội năm 1920), điện ảnh (Rạp chiếu bóng Palace mở năm 1920) và Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (thành lập năm 1924).
- Số liệu phát triển tầng lớp độc giả mới: Dẫn số liệu từ Niên giám Đông Dương, năm 1921 - 1922 toàn Việt Nam có 189.130 giáo viên, công chức, học sinh, sinh viên; đến năm 1932 - 1933 con số này tăng lên 352.369 người, tạo nền tảng xã hội tiếp nhận các quan niệm sống và thẩm mỹ mới.
- Bước chuyển giao thời: Khảo sát các hiện tượng văn học đầu tiên mang dấu ấn phương Tây như truyện ngắn Thầy Lazaro Phiền (Nguyễn Trọng Quản), tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng, Khóc thầm, Con nhà giàu phỏng theo mô típ Hector Malot, Victor Hugo, Alexandre Dumas), tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách), kịch Chén thuốc độc (Vũ Đình Long, 1921), thơ Tản Đà và bài thơ Tình già (Phan Khôi, 1932).
- Các khuynh hướng văn học Pháp tác động: Phân tích đặc trưng thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ XIX (sự giải phóng bản ngã cá nhân, cảm xúc nội tâm) và chủ nghĩa tượng trưng Pháp thế kỷ XIX (sử dụng biểu tượng, khám phá tiềm thức, sự tương hợp cảm giác, nguyên lý âm nhạc hóa thơ ca).
Chương 2: Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945
Chương 2 đi sâu phân tích ảnh hưởng của thơ ca Pháp đối với phong trào Thơ mới trên hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật:
- Các đề tài và chủ đề mới:
- Niềm say mê ngoại giới và lòng yêu cuộc sống trần thế: Thơ ca lãng mạn tiếp thu cảm hứng yêu đời, hưởng thụ vẻ đẹp thiên nhiên và tuổi trẻ từ thơ ca Phục hưng của Pierre de Ronsard (thể hiện rõ trong thơ Xuân Diệu qua các thi phẩm như Vội vàng, phá vỡ quan niệm khắc kỷ trung đại).
- Nỗi cô đơn rợn ngợp của cá thể trước không gian và thời gian: Phản ánh sự chuyển biến từ nỗi buồn thế sự theo khuôn mẫu Nho phong sang nỗi sầu vô cớ của cái Tôi tự ý thức. Tác giả đối chiếu nỗi buồn trong bài thơ Il pleure dans mon coeur của Paul Verlaine với Buồn đêm mưa của Huy Cận; cảm thức rợn ngợp trước vũ trụ vô tận của Blaise Pascal ("Le silence éternel de ces espaces infinis m'effraie") thể hiện qua tâm trạng nhân vật trong tiểu thuyết Tố Tâm và bài thơ Lời kỹ nữ của Xuân Diệu; cùng các thi phẩm của Tế Hanh, Phạm Hầu, Nam Trân, Anh Thơ, Hàn Mặc Tử.
- Những con đường thoát ly của cái Tôi cá nhân:
- Thoát ly vào tình yêu: Từ tình yêu trong sáng thuở ban đầu (Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính) chuyển dần sang khuynh hướng nhục cảm và cảm giác mạnh dưới ảnh hưởng từ tập Les Fleurs du Mal của Charles Baudelaire trong thơ Bích Khê (Tinh huyết), Vũ Hoàng Chương (Thơ say, Mây), Chế Lan Viên, Hoàng Diệp.
- Thoát ly vào quá khứ: Luận án phân tích sự khác biệt giữa khuynh hướng hoài cổ của các nhà lãng mạn bảo thủ Pháp (Chateaubriand, Vigny hoài niệm thời trung cổ và bảo hoàng) với xu hướng tìm về hồn xưa dân tộc, phong tục truyền thống hoặc lịch sử của các nhà thơ Việt Nam như Vũ Đình Liên (Ông đồ), Nguyễn Nhược Pháp, Đoàn Văn Cừ (Chợ Tết), Huy Thông (Tiếng địch sông Ô), Chế Lan Viên (Điêu tàn), Nguyễn Vĩ.
- Những sắc thái mới trong nghệ thuật biểu hiện: Sự tiếp thu quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật; kỹ thuật tổ chức câu thơ, cách ngắt nhịp linh hoạt; lối diễn đạt nặng về cảm giác và sự tương hợp giữa các giác quan (thơ tượng trưng); sự đổi mới trong thể loại thơ (thơ tự do, thơ văn xuôi, phá bỏ quy tắc thi luật cổ thi).
Chương 3: Ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945
Chương 3 trình bày các biểu hiện ảnh hưởng của văn xuôi Pháp đối với văn xuôi lãng mạn Việt Nam (trọng tâm là nhóm Tự lực văn đoàn và các tác giả cùng thời):
- Các đề tài và chủ đề mới:
- Đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, đòi quyền sống và tự do cá nhân: Khẳng định quyền tự do yêu đương, tự do hôn nhân, chống lại các định kiến gia đình gia trưởng truyền thống (thể hiện trong các tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng).
- Cải cách xã hội mang màu sắc cải lương tư sản: Phản ánh các tư tưởng đổi mới phong tục, xây dựng nếp sống mới ở thành thị và nông thôn.
- Hình tượng người hiệp sĩ giang hồ, khách chinh phu hành động: Khắc họa mẫu nhân vật ưa phiêu lưu, khao khát hành động, thoát ly khỏi đời sống tù túng.
- Cái Tôi cá nhân cực đoan: Thể hiện thái độ không chấp nhận lối sống tầm thường, mờ nhạt, tìm kiếm những trạng thái sống và cảm xúc mãnh liệt.
- Sắc thái mới trong nghệ thuật kết cấu và miêu tả:
- Đổi mới kết cấu và thể loại: Vượt qua lối kết cấu chương hồi, kết thúc có hậu ước lệ của văn xuôi truyền thống để chuyển sang các hình thức cốt truyện tâm lý hiện đại; làm phong phú các thể loại: tiểu thuyết tâm lý, truyện ngắn, phóng sự, ký sự, tùy bút.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Tập trung miêu tả thế giới nội tâm phức tạp, diễn biến tâm lý tinh vi cùng việc khắc họa ngoại hình mang tính cá thể hóa cao.
- Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên: Cảnh sắc thiên nhiên được miêu tả gắn liền với tâm trạng chủ quan của nhân vật, vận dụng kỹ thuật tạo hình và phối màu giàu chất hội họa phương Tây.
Chương 4: Thử phân tích ảnh hưởng văn học Pháp trong một số sáng tác tiêu biểu của Hàn Mặc Tử và Nguyễn Tuân trước 1945
Chương 4 khảo sát hai trường hợp tác giả tiêu biểu đại diện cho thơ ca và văn xuôi:
- Dấu hiệu ảnh hưởng thơ Pháp trong thơ Hàn Mặc Tử:
- Trình bày sơ lược tiểu sử và sự nghiệp của Charles Baudelaire cùng những cách tân nghệ thuật của ông trong thơ Pháp thế kỷ XIX.
- Khảo sát các dấu hiệu ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp trong thơ Hàn Mặc Tử: việc đưa vào thơ những hình ảnh ma quái, đau thương, máu huyết, cõi siêu hình; quan niệm xóa nhòa ranh giới giữa cái đẹp và cái ghê tởm; sự tương giao cảm giác và biểu tượng tôn giáo huyền bí.
- André Gide và các tác phẩm của Nguyễn Tuân trước 1945:
- Trình bày sơ lược tiểu sử, sự nghiệp văn học của André Gide và những đóng góp của ông đối với văn xuôi Pháp: phương pháp phân tích tâm lý nội tâm nhân vật, bút pháp miêu tả thiên nhiên giàu chất thơ và chất họa.
- Phân tích ảnh hưởng của André Gide đối với sáng tác của Nguyễn Tuân trước năm 1945 (qua các tập tùy bút như Vang bóng một thời, Quê hương, Nguyễn): ảnh hưởng về triết lý xê dịch (le voyage), thái độ kiếm tìm cảm giác mới lạ, ý thức đề cao cái Tôi tài hoa và phong cách thẩm mỹ cá nhân.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp cụ thể:
- Hệ thống hóa, tổng hợp toàn diện các ý kiến và công trình nghiên cứu của các thế hệ học giả đi trước từ năm 1932 đến 1996, bổ sung các luận điểm khoa học nhằm đưa ra cái nhìn khách quan về ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học lãng mạn Việt Nam.
- Tạo lập sự cân bằng trong nghiên cứu khi khảo sát đồng bộ và có hệ thống ở cả hai mảng thơ ca và văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945, khắc phục tình trạng các nghiên cứu trước đó thiên lệch chủ yếu về mảng thơ ca.
- Làm sáng tỏ cơ chế tiếp biến văn hóa: khẳng định sự phát triển của văn học lãng mạn 1930 - 1945 là kết quả của sức mạnh nội tại nền văn học dân tộc, các phong trào Duy tân và sự tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của văn học Pháp; đồng thời chỉ rõ những biểu hiện tiêu cực, suy đồi do ảnh hưởng của các trào lưu tư sản phương Tây.
- Rút ra bài học lịch sử về việc tiếp nhận tinh hoa văn học thế giới phục vụ yêu cầu hiện đại hóa và đổi mới nền văn học nước nhà gắn liền với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do dung lượng kiến thức đồ sộ của nền văn học Pháp và giới hạn của đề tài, tác giả luận án xác định công trình chỉ dừng lại ở mức độ "bước đầu tìm hiểu", không trình bày toàn diện toàn bộ lịch sử văn học Pháp mà chỉ giới hạn khảo sát các dấu hiệu ảnh hưởng trực tiếp từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX vào văn học lãng mạn Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm việc mở rộng nghiên cứu sang các thể loại kịch nói, lý luận phê bình, hoặc khảo sát sâu hơn các tác giả, tác phẩm lãng mạn khác chưa được phân tích chuyên biệt trong công trình.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Văn học so sánh và Lý luận văn học.
- Giảng viên đại học sử dụng trong giảng dạy các chuyên đề về tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và văn học so sánh Pháp - Việt.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa và văn học muốn khai thác hệ thống dữ liệu thư mục về báo chí chữ quốc ngữ, hoạt động dịch thuật và các trào lưu tiếp nhận văn học phương Tây giai đoạn 1900 - 1945.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào?
Luận án vận dụng kết hợp ba phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể (gắn tác giả, tác phẩm với hoàn cảnh lịch sử từng thời kỳ), phương pháp nghiên cứu loại hình/cấu trúc loại hình (khảo sát cấu trúc đồng đại và lịch đại của thể loại, cốt truyện, kết cấu) và phương pháp văn học so sánh (đối chiếu các hiện tượng văn học Pháp - Việt).
2. Luận án giải quyết mối quan hệ giữa sức mạnh nội tại dân tộc và ảnh hưởng văn học Pháp như thế nào?
Luận án tránh hai khuynh hướng sai lệch: tuyệt đối hóa coi văn học Pháp là động lực duy nhất, hoặc phủ nhận ảnh hưởng của văn học Pháp. Tác giả khẳng định sức mạnh nội tại của văn học dân tộc, kết hợp với cao trào Duy tân đầu thế kỷ XX và sự giao lưu tiếp biến với văn hóa, văn học Pháp đã tạo nên diện mạo của văn học Việt Nam hiện đại.
3. Thơ tượng trưng Pháp thế kỷ XIX tác động đến phong trào Thơ mới qua những nguyên lý nghệ thuật nào?
Thơ tượng trưng Pháp tác động qua các nguyên lý: sử dụng biểu tượng để thể hiện thế giới tiên nghiệm và tiềm thức (Charles Baudelaire), thuyết tương hợp cảm giác (correspondances) và sự hỗn loạn của các giác quan (Arthur Rimbaud), cùng nguyên lý đưa chất nhạc vào thi ca (De la musique avant toute chose của Paul Verlaine).
4. Điểm khác biệt giữa cảm hứng hoài cổ trong Thơ mới Việt Nam và chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ Pháp là gì?
Chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ Pháp (Chateaubriand, Vigny) chối bỏ thành quả cách mạng 1789, ca ngợi chế độ phong kiến trung cổ và giáo lý tôn giáo; trong khi đó, các nhà Thơ mới Việt Nam (Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhược Pháp, Đoàn Văn Cừ, Huy Thông) thoát ly thực tại bằng cách tìm về các giá trị thuần phong mỹ tục, vẻ đẹp văn hóa truyền thống và các chiến công lịch sử của dân tộc.
5. Hai tác giả Việt Nam nào được luận án lựa chọn phân tích chuyên sâu ở Chương 4 và gắn với những tác giả Pháp nào?
Chương 4 chọn phân tích trường hợp nhà thơ Hàn Mặc Tử trong mối liên hệ ảnh hưởng với nhà thơ Charles Baudelaire (đại diện cho thơ tượng trưng Pháp), và nhà văn Nguyễn Tuân trong mối liên hệ ảnh hưởng với nhà văn André Gide (ở khía cạnh phân tích tâm lý nội tâm, miêu tả thiên nhiên và triết lý xê dịch).
Kết luận
Luận án của tác giả Đào Trọng Thức là công trình nghiên cứu có hệ thống về sự tiếp biến và ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trên cả hai phương diện thơ ca và văn xuôi. Công trình đã làm rõ các tiền đề lịch sử - xã hội, các khuynh hướng thẩm mỹ (chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng Pháp) tác động đến đề tài, chủ đề, cái Tôi cá nhân và hình thức nghệ thuật của văn học Việt Nam hiện đại. Qua đó, luận án khẳng định vai trò của việc tiếp thu tinh hoa văn học nhân loại gắn liền với bảo tồn và phát huy bản sắc văn học dân tộc.