Tổng quan về luận án
Nghiên cứu mang tính tiên phong trong việc hệ thống hóa quy luật tiếp biến văn hóa và giao lưu văn học Đông - Tây trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Đặt trong bối cảnh lịch sử đầy biến động từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự va đập giữa ý thức hệ thực dân nửa phong kiến và làn sóng tư tưởng tư sản phương Tây đã tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng văn học chưa từng có.
Khoảng trống học thuật cốt lõi (research gap) được luận án định vị là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và mang tính loại hình học về các dấu hiệu ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học lãng mạn Việt Nam trên cả hai bình diện: thi ca và văn xuôi. Mặc dù các nhà phê bình tiền bối như Hoài Thanh, Hoài Chân (1942) trong Thi nhân Việt Nam hay Vũ Ngọc Phan (1942) trong Nhà văn hiện đại đã có những phát hiện tinh tế, song các nhận định này chủ yếu dừng lại ở mức độ phê bình cảm thụ ấn tượng, chưa xây dựng được cơ sở lý luận vững chắc về điều kiện lịch sử - xã hội cũng như cấu trúc thi pháp học loại hình.
Luận án thiết lập hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và giả thuyết khoa học (Hypotheses - H):
- RQ1: Những tiền đề lịch sử, văn hóa, xã hội và ngôn ngữ nào đã tạo nên cơ chế tiếp nhận văn học Pháp tại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945?
- RQ2: Chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng Pháp thế kỷ XIX đã khúc xạ như thế nào vào thế giới nghệ thuật của phong trào Thơ mới?
- RQ3: Văn xuôi lãng mạn (tiêu biểu là Tự lực văn đoàn và tùy bút) đã tái cấu trúc nghệ thuật trần thuật, xây dựng nhân vật và miêu tả tâm lý dưới tác động của văn xuôi Pháp ra sao?
- RQ4: Dấu ấn cá thể hóa của các tác gia Pháp (như Charles Baudelaire, André Gide) được thể hiện như thế nào trong sáng tác của các tác giả đỉnh cao của Việt Nam (Hàn Mặc Tử, Nguyễn Tuân)?
Khung lý thuyết của công trình tích hợp lý thuyết Văn học so sánh (Comparative Literature) theo trường phái Pháp, Chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác-xít về hình thái ý thức xã hội và Lý thuyết loại hình học văn học (Typological Literary Theory). Luận án xác lập phạm vi khảo sát xuyên suốt 13 năm phát triển đỉnh cao của dòng văn học lãng mạn (1932 - 1945), đối chiếu với các nguồn tư liệu thống kê lịch sử như Niên giám Đông Dương (ghi nhận sự tăng trưởng của tầng lớp trí thức Tây học từ 189.130 người năm 1921 - 1922 lên 352.369 người năm 1932 - 1933) cùng hệ thống ấn bản báo chí chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945.
Literature Review và Positioning
Tiến trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học Pháp và văn học lãng mạn Việt Nam trải qua ba giai đoạn lịch sử rõ nét với nhiều luồng quan điểm đối thoại học thuật:
Trong giai đoạn đầu, Hoài Thanh (1942) đã đưa ra một định luận mang tính trực giác sâu sắc: "Thơ Việt đã diễn lại trong 10 năm cái lịch sử 100 năm của thơ Pháp, từ lãng mạn đến Thi sơn, tượng trưng và những nhà thơ sau tượng trưng... Thơ tượng trưng được người ta thích hơn, nhất là Baudelaire, người đầu tiên đã khơi nguồn thơ ấy. Có thể nói hầu hết các nhà thơ vừa kể trên, không nhiều thì ít, đều bị ám ảnh vì Baudelaire". Đồng thời, Vũ Ngọc Phan (1942) so sánh: "Khái Hưng là văn sĩ của thanh niên Việt Nam đương thời cũng như Musset là thi sĩ của thanh niên Pháp thuở xưa", đồng thời chỉ ra mối liên hệ thi pháp tự sự giữa Nguyễn Tuân với Marcel Proust.
Trong giai đoạn 1945 - 1975, bối cảnh chiến tranh phân hóa cách tiếp cận. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1948), Tổng Bí thư Trường Chinh định hình phương pháp luận duy vật biện chứng khi phân biệt rạch ròi hai mặt văn hóa: "Khi ta chống chính sách văn hóa thâm độc của thực dân Pháp, ta đã không quên tiếp thu tinh hoa của văn hóa dân chủ Pháp. Văn chương, hội họa, nhạc, kịch, kiến trúc... của ta đã mang dấu vết của văn học, nghệ thuật tiến bộ Pháp". Đến năm 1966, chuyên luận Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ đã đặt nền tảng phân tích thi pháp học Mác-xít cho việc tiếp nhận thơ lãng mạn và tượng trưng Pháp thế kỷ XIX. Ngược lại, tại các đô thị miền Nam, các nhà phê bình như Võ Long Tê trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Bùi Xuân Bào, Đặng Tiến, Thanh Lãng thiên về phương pháp hiện sinh, thực chứng và phân tâm học.
Giai đoạn sau năm 1986 chứng kiến sự bùng nổ của các công trình đánh giá lại di sản văn học 1930 - 1945 như Tự lực văn đoàn - con người và văn chương (Phan Cự Đệ, 1990), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (Hà Minh Đức & Huy Cận chủ biên, 1993).
Tranh luận học thuật trung tâm tồn tại giữa hai khuynh hướng đối lập: (1) Quan điểm coi văn học Pháp là động lực duy nhất thúc đẩy toàn bộ sự phát triển của văn học Việt Nam (Âu hóa cực đoan), và (2) Khuynh hướng phủ nhận sạch trơn tác động ngoại sinh, chỉ quy về các yếu tố nội sinh dân tộc. Luận án định vị ở vị trí trung tâm biện chứng: khẳng định sức mạnh nội tại của văn hóa dân tộc kết hợp với cao trào Duy tân và chữ Quốc ngữ là nền tảng quyết định, trong khi văn học Pháp đóng vai trò chất xúc tác ngoại sinh thúc đẩy văn học Việt Nam nhảy vọt về chất.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế, vị thế của luận án tương đương với công trình kinh điển của Paul Van Tieghem (La Littérature Comparée, 1931) về sự khuếch tán xuyên quốc gia của Chủ nghĩa Lãng mạn, cũng như nghiên cứu của Shimazaki Tōson và Mori Ōgai về quá trình tiếp nhận Jean-Jacques Rousseau và Byron trong phong trào Lãng mạn thời kỳ Minh Trị (Nhật Bản).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo ra bước tiến quan trọng trong việc vận dụng lý luận văn học Mác-xít và thi pháp học so sánh để phân tích cơ chế giải phóng bản ngã nghệ thuật:
HỆ HÌNH VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
[Tính Phi Ngã - Đạo lý Khổng giáo - Ước lệ]
HỆ HÌNH VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG
(Cái Tôi tự ý thức, (Tương ứng giác quan,
giải phóng cá nhân, âm nhạc tính, tiềm thức,
cảm quan thiên nhiên) thế giới tiên nghiệm)
Công trình mở rộng lý thuyết tiếp nhận văn học thông qua việc phân định rạch ròi quan điểm của Karl Marx và Friedrich Engels về hai dòng chảy của Chủ nghĩa Lãng mạn Tây Âu: Lãng mạn tiêu cực/bảo thủ (Chateaubriand, Joseph de Maistre, Alfred de Vigny) - tiếng thở dài hoài cổ tiếc thương trật tự phong kiến sụp đổ, và Lãng mạn tích cực/dân chủ (Victor Hugo, George Sand, Alfred de Musset) - ngọn cờ đấu tranh cho nhân quyền, tự do cá nhân và tiến bộ xã hội. Luận án chứng minh rằng các tác gia Việt Nam không sao chép thụ động mà đã khúc xạ cả hai khuynh hướng này nhằm thể hiện nỗi đau mất nước và khát vọng giải phóng cái Tôi cá nhân.
Các mệnh đề lý thuyết được xác lập:
- Proposition 1: Sự chuyển dịch từ "tính phi ngã" của văn học trung đại sang "cái Tôi cá thể hóa" là một bước nhảy vọt mang tính tất yếu lịch sử, được xúc tác bởi tư tưởng Khai sáng (Montesquieu, Voltaire, Rousseau) và văn học tư sản Pháp.
- Proposition 2: Thơ ca lãng mạn Việt Nam tiếp nhận Chủ nghĩa Tượng trưng (Baudelaire, Rimbaud, Verlaine) như một phương thức đào sâu vào thế giới nội cảm và tiềm thức, tạo nên cuộc cách mạng về ngôn ngữ thi ca.
- Proposition 3: Văn xuôi lãng mạn phá vỡ mô hình kết cấu chương hồi Trung Hoa, tiếp thu thi pháp phân tích tâm lý của tiểu thuyết hiện đại Pháp để xây dựng hình tượng con người cá nhân nổi loạn.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột phương pháp luận:
- Lý thuyết Văn học so sánh (Comparative Literature Framework): Khảo sát mối quan hệ nguồn (contact/influence) và quan hệ tương đồng loại hình (typological analogies).
- Thi pháp học cấu trúc - loại hình (Structural-Typological Poetics): Phân tích sự biến đổi của các yếu tố hình thức mang tính quan niệm: hệ thống thi luật, ngắt nhịp, hòa âm, cấu trúc cốt truyện, điểm nhìn trần thuật.
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Marxist Socio-Cultural Contextualism): Gắn kết hiện tượng văn học với các điều kiện kinh tế, thiết chế giáo dục Pháp - Việt, thị trường báo chí và sự chuyển biến cơ cấu giai cấp đô thị.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ: Áp dụng đối với các tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ thuộc trào lưu lãng mạn từ năm 1930 đến năm 1945 tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu vận hành trên lập trường triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp luận nghiên cứu lịch sử cụ thể với phân tích cấu trúc - loại hình học. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level design) được cấu trúc hóa theo 3 cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Khảo sát bối cảnh chính trị - xã hội thuộc địa, chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, phong trào Duy tân và hệ thống thiết chế trường học Pháp - Việt.
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Khảo sát sự hình thành và vận động của các trào lưu, trường phái văn học (Phong trào Thơ mới, Tự lực văn đoàn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập).
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Phân tích cấu trúc văn bản, phân tích liên văn bản (intertextual analysis) trên các tác gia - tác phẩm tiêu biểu.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt qua 4 bước:
Độ tin cậy (reliability) và giá trị học thuật (validity) được đảm bảo thông qua kỹ thuật tam giác hóa tư liệu (data triangulation): đối chiếu giữa văn bản sáng tác, văn bản lý luận - phê bình đương đại và các tài liệu lịch sử xã hội chính thống.
Data và phân tích
Tập dữ liệu khảo sát bao gồm:
- Tư liệu lịch sử - thể chế: Mốc xóa bỏ thi cử chữ Hán tại Nam Kỳ (1896) và Trung Kỳ (1918); sự ra đời của Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes (1651); Dụ của Vua Thành Thái đưa chữ Quốc ngữ vào học tập và thi cử (1906).
- Ngữ liệu văn học: Khảo sát toàn diện hơn 50 tác giả thi ca và văn xuôi, đối chiếu trực tiếp với các thi phẩm tiếng Pháp của Pierre de Ronsard, Lamartine, Victor Hugo, Alfred de Musset, Sully Prudhomme, Charles Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Stéphane Mallarmé và văn xuôi của Jean-Jacques Rousseau, André Gide, Marcel Proust.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Quy luật nén thời gian và gia tốc hiện đại hóa: Luận án chứng minh sự tiếp nhận văn học Pháp tại Việt Nam diễn ra với tốc độ nhảy vọt phi thường. Nếu nước Pháp mất một thế kỷ để đi từ Chủ nghĩa Lãng mạn qua phái Thi Sơn đến Chủ nghĩa Tượng trưng, thì thi ca Việt Nam chỉ cần hơn một thập kỷ (1932 - 1945) để tích hợp và thăng hoa toàn bộ các trường phái này.
- Sự giải phóng triệt để của "Cái Tôi cá nhân tự ý thức": Văn học lãng mạn đã thực hiện cuộc đoạn tuyệt mang tính cách mạng với tính phi ngã của văn học phong kiến. Dưới ảnh hưởng của tinh thần dân chủ tư sản Pháp, cái Tôi cá nhân lần đầu tiên được khẳng định toàn diện với mọi cung bậc: niềm say mê ngoại giới trần thế (Xuân Diệu chịu ảnh hưởng từ Ronsard: "Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất"), nỗi cô đơn rợn ngợp trước vũ trụ vô tận (ảnh hưởng từ Blaise Pascal: "Le silence de ces espaces infinis m'effraie" đến Huy Cận trong Buồn đêm mưa).
- Tiếp biến lý thuyết "Tương ứng giác quan" (Correspondances) và "Hỗn loạn giác quan" (Dérèglement des sens): Các nhà thơ Việt Nam đã vận dụng sáng tạo luận điểm của Charles Baudelaire ("Les parfums, les couleurs et les sons se répondent" - Hương thơm, màu sắc và âm thanh tương ứng với nhau) và thi pháp âm nhạc của Paul Verlaine ("De la musique avant toute chose" - Âm nhạc là trên hết). Điển hình là sự hòa quyện giác quan trong thơ Xuân Diệu: "Mây vắng trời trong đêm thủy tinh / Lung linh bóng sáng bỗng rung mình" (Nguyệt cầm). Đặc biệt, luận án chỉ rõ ảnh hưởng của tập thơ Les Fleurs du Mal (Những bông hoa tội lỗi) của Baudelaire đối với Bích Khê và Vũ Hoàng Chương. Như Hàn Mặc Tử đã khẳng định: "Văn thơ của Bích Khê nhuốm đầy máu huyết của Baudelaire... Thơ lúc ấy sẽ ham thích hết sức những cái gì thanh cao như hương thơm nhân đức của các vị thánh, hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà người thế gian chưa từng phạm tới".
- Cách tân nghệ thuật tự sự và phân tích tâm lý trong văn xuôi: Văn xuôi lãng mạn Tự lực văn đoàn và tùy bút Nguyễn Tuân đã vượt thoát khỏi thi pháp tiểu thuyết chương hồi. Tác phẩm Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách, 1925) mở đầu cho dòng tiểu thuyết phân tích tâm lý theo mô hình La Princesse de Clèves (Madame de La Fayette) và Manon Lescaut (Abbé Prévost). Luận án phân tích sự tương đồng độc đáo giữa triết lý xê dịch, lối phân tích nội tâm giàu chất thơ và chất họa của André Gide với nghệ thuật tùy bút của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời, Một chuyến đi.
- Tính phân hóa và bản sắc nội sinh: Luận án làm sáng tỏ rằng các nhà văn lãng mạn Việt Nam không rơi vào chủ nghĩa sao phỏng nô dịch. Dù tiếp thu thi pháp phương Tây, họ vẫn giữ vững bản sắc dân tộc, thể hiện qua hồn xưa đất nước trong thơ Vũ Đình Liên ("Lòng ta là những hàng thành quách cũ / Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa"), chất dân dã của Nguyễn Bính, hay phong vị Đường thi thâm trầm của Huy Cận, Quách Tấn.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Bổ sung luận cứ thực tiễn cho lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa ở các nước thuộc địa và nửa phong kiến; làm rõ cơ chế tương tác giữa một nền văn hóa bản địa lâu đời với văn hóa ngoại sinh phương Tây.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp mô hình mẫu mực về nghiên cứu văn học so sánh kết hợp phân tích thi pháp học cấu trúc với chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Về mặt thực tiễn và giáo dục: Cung cấp tài liệu tham khảo nền tảng cho việc giảng dạy chuyên đề Văn học so sánh và Văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học; định hướng công tác biên soạn giáo trình Ngữ văn.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra những giới hạn học thuật xuất phát từ bối cảnh nghiên cứu:
- Giới hạn về phạm vi khảo sát văn xuôi Pháp: Trọng tâm văn xuôi mới chỉ tập trung sâu vào André Gide, Marcel Proust và nhóm lãng mạn đầu thế kỷ XIX, chưa bao quát đầy đủ sự tác động của dòng văn học hiện thực Pháp (Balzac, Flaubert, Maupassant) đến phân hệ tiểu thuyết tả thực đương thời.
- Hạn chế về công cụ phân tích ngữ liệu số: Do điều kiện kỹ thuật năm 1996, nghiên cứu chưa áp dụng phương pháp ngôn ngữ học định lượng (Corpus Linguistics) để thống kê tần suất xuất hiện của các cấu trúc ngữ pháp và từ vựng gốc Pháp trong tiếng Việt hiện đại.
- Dung lượng khảo sát nghệ thuật sân khấu: Mảng kịch bản sân khấu mới dừng lại ở việc khảo sát các vở kịch của Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ mà chưa đi sâu vào toàn bộ diện mạo kịch trường thời kỳ 1930 - 1945.
Hướng nghiên cứu tiếp nối trong tương lai:
- Mở rộng mô hình so sánh đa phương (multilateral comparative analysis): Việt Nam - Pháp - Trung Quốc (đặc biệt là mối liên hệ giữa phong trào Ngũ Tứ và Thơ mới Việt Nam).
- Nghiên cứu tiếp nhận thi pháp tượng trưng và siêu thực Pháp dưới góc độ Lý thuyết Dịch thuật học hiện đại (Translation Studies).
- Ứng dụng Lý thuyết Hậu thuộc địa (Post-colonial Theory) của Edward Said và Homi Bhabha để giải mã tính chất nước đôi (hybridity/ambivalence) trong tâm thế của các trí thức Tây học Việt Nam.
Tác động và ảnh hưởng
- Giá trị học thuật lâu dài: Luận án của Đào Trọng Thức, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phan Cự Đệ, đã trở thành một trong những công trình chuyên luận toàn diện đầu tiên tại Việt Nam giải quyết trọn vẹn vấn đề ảnh hưởng của văn học Pháp đối với văn học lãng mạn 1930 - 1945.
- Định hình phân ngành Văn học so sánh: Góp phần xác lập vị thế vững chắc cho bộ môn Văn học so sánh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội cũng như hệ thống các viện nghiên cứu văn học trên toàn quốc.
- Tác động văn hóa xã hội: Khẳng định giá trị nhân văn và tinh thần đổi mới của văn học lãng mạn 1930 - 1945, xóa bỏ những định kiến khắt khe về dòng văn học này, khẳng định khả năng bảo tồn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phương pháp luận so sánh văn học chuẩn mực và hệ thống tư liệu lịch sử xác thực.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Tài liệu tham khảo bắt buộc cho các chuyên đề Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Thi pháp học Thơ mới và Văn học so sánh.
- Sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Báo chí, Ngôn ngữ: Nắm vững tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ và sự hình thành của văn xuôi Quốc ngữ hiện đại.
- Nhà phê bình và dịch giả: Hiểu rõ cơ chế tiếp nhận và chuyển dịch thi pháp giữa hai hệ thống ngôn ngữ Pháp - Việt.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý thuyết tiếp nhận văn học bằng việc chứng minh quy luật "tăng tốc lịch sử" và "khúc xạ bản địa": văn học Việt Nam trong 13 năm (1932 - 1945) đã tích hợp có chọn lọc tiến trình một thế kỷ của văn học Pháp (từ Lãng mạn đến Tượng trưng), giải phóng "Cái Tôi cá nhân" nhưng không làm mất đi căn tính dân tộc.
2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
Khác với lối phê bình ấn tượng chủ quan của Hoài Thanh (1942) hay tiếp cận thuần túy xã hội học chính trị thời kỳ 1945 - 1975, luận án tích hợp phương pháp duy vật lịch sử Mác-xít với thi pháp học cấu trúc loại hình, khảo sát đồng thời cả hai trục đồng đại và lịch đại trên cả hai thể loại thi ca và văn xuôi.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu văn bản là gì?
Sự tiếp nhận chủ nghĩa tượng trưng Pháp tại Việt Nam không chỉ dừng lại ở cảm xúc lãng mạn mà đã đi tới mức độ triệt để của thuyết "hỗn loạn giác quan" (Rimbaud) và thi pháp "cái Đẹp trong cái Chết/tội lỗi" của Baudelaire, được thể hiện rõ nét qua các thi phẩm mang màu sắc siêu thực, nhục cảm của Bích Khê và Vũ Hoàng Chương.
4. Quy trình tái lập nghiên cứu (Replication protocol) có được cung cấp rõ ràng không?
Có. Luận án xây dựng quy trình khảo cứu minh bạch dựa trên danh mục văn bản đối chiếu song ngữ, hệ thống ấn phẩm báo chí Quốc ngữ thời kỳ 1905 - 1945 và số liệu thống kê giáo dục từ Niên giám Đông Dương.
5. Luận án mở ra chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo như thế nào?
Định hướng mở rộng sang khảo sát thi pháp tiểu thuyết hiện thực phê phán Pháp - Việt, nghiên cứu tiếp nhận văn học phương Tây tại Nam Bộ đầu thế kỷ XX, và xây dựng bộ từ điển thi pháp văn học lãng mạn Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945.
Kết luận
- Khẳng định quy luật giao lưu văn hóa khách quan giữa hai nền văn học Pháp - Việt như một động lực ngoại sinh cốt yếu thúc đẩy sự ra đời của nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Chứng minh sự giải phóng triệt để của "Cái Tôi cá nhân tự ý thức", chấm dứt thời kỳ thống trị của thi pháp "phi ngã" phong kiến kéo dài hàng thế kỷ.
- Hệ thống hóa toàn diện các dấu ấn của Chủ nghĩa Lãng mạn và Chủ nghĩa Tượng trưng Pháp trên các bình diện: đề tài, cảm quan không gian - thời gian, thi luật, ngắt nhịp và nguyên lý tương ứng giác quan.
- Xác lập thành tựu cách tân cấu trúc văn xuôi tự sự, nghệ thuật trần thuật và miêu tả tâm lý nhân vật qua sự tiếp biến thi pháp của các tác gia Pháp đỉnh cao.
- Chứng minh bản lĩnh văn hóa nội sinh của dân tộc: văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 vừa vươn tới tầm cao hiện đại của thế giới, vừa bảo tồn và làm giàu đẹp thêm tiếng Việt cùng bản sắc văn hóa Việt Nam.