CHƯƠNG 1 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TƯ TƯỞNG PHẬT, NHO, ĐẠO TRONG CA DAO DÂN CA 1. PHẬT GIÁO TRONG CA DAO DÂN CA Phật giáo đã đi vào đời sống người dân trước khi nó bước chân vào cung đình. Từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã theo các thương buôn Ấn độ vào Việt Nam. Các nhà buôn Ấn không có ý thức truyền đạo, nhưng họ vẫn thi hành tín ngưỡng ngay trên đất khách.
Bằng cách “Họ giữ ngũ giới; không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu”. Họ tin ở thuyết nhân quả; vì vậy họ lo bố thí cúng dường…”[50, tr. Những sinh hoạt tín ngưỡng và mục đích thực thi tín ngưỡng của họ có phần giống với tín ngưỡng dân gian Việt Nam lúc bấy giờ, là điều kiện giúp Phật giáo từ từ thẩm thấu vào tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Khi nước nhà được độc lập, nhận thấy ý nghĩa xã hội của Phật giáo, triều đình phong kiến Việt Nam tiến hành tiếp thu Phật giáo một cách chủ động và có hệ thống.
Vua Đinh Tiên Hoàng chính thức phong cấp cho các tăng sĩ và mời họ tham gia chính sự. Đến năm 1018 vua Lý Thái Tổ cho người sang Trung Quốc thỉnh kinh về. Sự truyền bá chính thức Phật giáo ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho người dân gần gũi với hệ thống giáo lý Phật pháp. Các học thuyết cao thâm của nhà Phật đã đi vào dân gian theo cách riêng của nó.
Nếu như trước kia, khi từ Buddha, tiếng Phạn được người dân đọc theo âm, trại thành Bụt, thì nay, với văn bản kinh bằng tiếng Hán từ Buddha được phiên âm theo tiếng Hán Việt là Phật. Từ đây trong dân gian Việt Nam tồn tại hai cách phát âm Phật và Bụt. Âm Bụt, là biểu tượng thần linh của dân gian “ Chịu ảnh hưởng trực tiếp văn hóa Ấn Độ do đất Chàm thuộc văn hóa Bà la môn đem lại” [73, tr. 352], có trước khi Phật giáo được các bậc vua chúa tôn sùng.
Âm Phật là kết quả của sự học chữ Hán và quá trình tiếp xúc với văn hóa Hán, nên xét về nguồn gốc thì Phật lại thuộc thành phần văn hóa bác học, là thành tố khách thể bên ngoài văn hóa dân gian và đã có sự ảnh hưởng vào văn hóa dân gian. Trong tổng tập Kho tàng ca dao người Việt, Phật đã có mặt 59 lần (0,47%), với nhiều hình thức xuất hiện. Phật là một đấng thần linh đầy quyền năng, giám sát và có khả năng can thiệp, xếp đặt cuộc sống nơi trần thế, thể hiện qua bài ca dao dưới đây: Người ngay Trời Phật chứng minh Cứu được con vua Thủy, hiển vinh cả đời.1705] Phật luôn ở bên cạnh người dân thấu hiểu nỗi khổ của người dân, luôn lắng nghe những thỉnh cầu và sẵn sàng đáp ứng những thỉnh nguyện của họ. Họ tin Phật phù hộ, mang đến những điều lành cho họ.
Họ cầu nguyện Phật giúp họ làm những việc vượt khỏi khả năng của con người: Nghiêng vai ngửa vái Phật Trời Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân.1648] Trong Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh có hai bài, Kho tàng ca ca dao xứ Nghệ có một bài Phật mang ý nghĩa như trên, nhưng không tìm thấy Phật trong Dân ca quan họ Bắc Ninh. Phật đối với người dân Việt Nam giống như một vị thần, vừa gần gũi vừa linh thiêng, nên Phật được tôn kính và thờ phụng trang nghiêm : …Đức trì phơi tỏ màu sen Thập phương chư Phật ngồi trên đủ mười Hoa sen tam bảo xong rồi… [49, tr.1115] Tuy nhiên, sau khi bị thất sủng nơi triều đình, Phật giáo đã thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Một số kẻ xấu lợi dụng Phật giáo để làm những việt phi luân bại lý, nên Phật giáo phần nào mất đi sự thành tín của người dân. Điều đó được phản ánh trong ca dao dân ca.
Xem bài ca dao sau: Ba mươi súc miệng ăn chay Sáng ngày mồng một dựng cây trúc đài Lâm râm khấn vái Phật Trời Biết đâu có nắng mà phơi quần hồng… [49, tr. 216] Bài ca dao trên có tất cả 16 câu, với cách dùng phản nghĩa tác giả cho thấy sự lung lay về niềm tin tôn giáo của một số đối tượng trong dân chúng. Đồng thời, hàm ý đã kích một số phần tử xấu, những biểu hiện suy vi của Phật giáo. Phật trong một điều kiện, hoàn cảnh nào đó lại trở nên tầm thường.
Người dân không còn tin vào sự mầu nhiệm, trí huệ sáng suốt và sự từ bi của Phật nữa, và họ đã bông đùa: Hộ pháp thì một quan ba Long thần chín rưỡi, Thích Ca ba tiền [49, tr. 216] Sự thật Phật Thích Ca, và Quan Thế Âm Bồ Tát là những vị gần gũi với đời sống tâm linh của người dân Việt Nam nhất. Phật Thích Ca, theo Nguyễn Đăng Thục: “Trong tất cả các vị Bụt hay Phật thì chỉ có Phật Thích Ca (Cakya Muni) là lịch sử, còn các vị khác là danh hiệu tượng trưng cho những đức tính tác dụng siêu hóa ra” [73, tr. Phật Thích Ca, chính yếu tố “lịch sử”, có nhân thân rõ ràng đã đưa Ngài gần với người dân hơn, người hiện diện rõ ràng, hành động cụ thể, ngài cảm hóa nhanh chóng suy nghĩ của người dân.
Truyền thuyết nhà Phật kể rằng ngài chính là Thái tử của nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), thuộc bắc Ấn, nhưng vì chán cảnh trần tục, xót xa khi thấy con người phải trải qua những giai đoạn khổ ải: sinh lão bệnh tử, ngài quyết tâm đi tìm con đường để giải thoát mình, giải thoát người khỏi những cảnh khổ ấy. Ngài đã bỏ nhà, xuất gia đi tu. Thích Minh Huệ trong Lược sử Phật giáo Việt Nam có Viết: “Qua 49 ngày chiến đấu với nội ngoại ma, Thái tử Tất Đạt đã chứng tam minh là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh, thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, năm 36 tuổi” [80, tr. Phật Thích Ca, sau khi thành Phật, ngài đã đi thuyết giảng cứu độ chúng sinh, những lời thuyết giảng của người được đệ tử ghi chép lại thành kinh sách và lưu truyền cho đời sau.
Với công đức phát dương Phật giáo, Phật Thích Ca được Phật tử truyền tụng tôn sùng giống như Khổng Tử của Nho giáo. Nói đến Phật giáo người dân nghĩ đến phật Thích Ca, cầu nguyện Phật cũng là cầu Phật Thích ca: Lên chùa lạy Phật Thích Ca Lạy ông Tam Thế, vua cha Ngọc Hoàng… [49, tr. 1388] Quán Thế Âm cũng xuất hiện với ý nghĩa như vậy: Ngó qua chùa lớn làm chay Thỉnh ông Tiêu Viện thỉnh bà Quan Âm. 1664] Phật Quan Âm, còn có cách gọi là Quan Âm Bồ Tát.
Từ điển Phật giáo giải thích: “còn gọi là Padmapani tượng trưng cho ánh sáng, và trong Phật giáo đại thừa có âm là Bồ Tát, Bodhisatha, nghĩa là thông cảm nhất, thường xuyên và sẵn sàng nghe lời câu nguyện của ai muốn được giải thoát, ngài là hiện thân của Phật Adiđà” [11, tr. Nguyễn Đăng Thục thì : “Quan Âm là một trong ba ngôi của Di Đà, có đến 33 hình thức khác nhau…Phật Bà Quan Âm là năng lực nữ tính của nam tính Quan Thế Âm…”[73, tr. Trong dân gian Việt Nam vẫn lưu truyền một câu chuyện về Quan Thế Âm: Quan Âm Thị Kính. Người dân tin rằng sự nhẫn nhục, và lòng từ bi bác ái của Kính Tâm (Thị Kính) là: “phép Phật Nhiệm mầu đã rước lấy linh hồn Kính Tâm vào Niết Bàn là Phật Quan Âm” [73, tr.
Nguyễn Đăng Thục đã xét hình tượng Phật Bà Quan Âm trong Phần “Phật giáo bình dân Việt Nam” [73, tr. Ông xem đây là một hiện tượng tín ngưỡng của dân gian, thuộc hệ tư tưởng bình dân. Phật giáo là một tôn giáo, những người sáng lập ra Phật giáo đã xây dựng một hệ thống học thuyết quy củ làm cơ sở cho công cuộc truyền bá tôn giáo. những học thuyết Phật giáo ít nhiều có ảnh hưởng đến người dân Việt Nam.
Tuy nhiên sự tiếp nhận của người dân Việt Nam có sự thay đổi rất linh động. Thuyết nhà Phật có khái niệm Bát Nhã, Bát Nhã Ba La Mật Đa. Bát Nhã là trí huệ. Trí huệ Bát Nhã như ánh sáng mặt trời chiếu rọi phá tan những u mê cõi tục, tất cả không cũng như có và có cũng thành không.
Trí huệ Bát Nhã chỉ có những người phi phàm mới vươn tới: “Không sinh, không diệt, không sạch, không thêm, không bớt…Không có trí thức, mà cũng không có gì gọi là đạt được cả…Bồ Tát! Theo cái biết Bát Nhã Ba La Mật Đa, lòng không còn chướng ngại “chấp trược”, vì không còn chướng ngại nữa, không lo âu sợ hãi, xa lìa các điều điên đảo mộng tưởng, ấy là cõi cứu cánh của Niết Bàn”[73, tr. Hệ thống giáo lý Bát Nhã được tập hợp thành kinh, gọi là kinh Bát Nhã Ba La Mật. Bát Nhã khởi nguyên mang nặng tính triết lý, về sau Bát Nhã lại được ví như một con thuyền, phương tiện đưa chúng sinh đến nơi vĩnh hằng, thoát tục. Từ ý nghĩa thứ hai người dân xem Bát Nhã như tên của một con thuyền, vận dụng vào phép chơi chữ trong bài ca dao dưới đây: Cậy anh vuốt một cây sào Chống thuyền Bát Nhã qua ao Long Hồ.65] Bát Nhã trong hai câu ca dao trên không còn mang nghĩa là công cụ, phương tiện để giúp chúng sinh đạt đạo mà là một danh từ thuần túy dùng để chơi chữ theo như cách hiểu nôm na của người dân.
Bát Nhã trở thành một tư liệu nghệ thuật. “Thuyền” đối với bên kia là ao, “Bát Nhã” là tên một con thuyền, đối với bên kia là Long Hồ nhưng cũng là một cái ao. Tác giả dân gian đã không khai thác từ Bát Nhã theo nội dung trừu tượng mà chỉ vận dụng như một tên riêng để phục vụ mục đích nghệ thuật đối đáp, nhưng lại rất thâm sâu. Tuy nhiên, chỉ được khai thác một lần trong số 12.487 đơn vị ca dao dân ca, có lẽ nơi đầu tiên được sưu tập là Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh.
Đi cùng với Bát Nhã, trong kinh Phật còn có một từ mà chúng ta rất quen thuộc đó là bồ đề. Bồ đề là bản chất của sự giác ngộ. Trong kinh Tượng Đầu Tinh Xá do nhà sư Ti Ni Đa Lưu Chi dịch có đoạn: “Bồ đề siêu việt tam giới, siêu việt ngôn ngữ, siêu việt văn tự, không cần địa điểm nương tựa”[50, tr. Tính chất bác học, đòi hỏi tư duy trừu tượng, cao siêu của Bồ đề cũng không thể thâm nhập vào đời sống người dân.
Người dân chỉ biết Bồ đề là hình ảnh cây đại thụ, nơi mà Phật Thích Ca trụ để giảng đạo pháp: Chào chàng bước tới cảnh này, Chùa vui cực lạc trồng cây bồ đề.