Chương I. Tổng quan về ngành thời trang và thời trang bền vững 1. Sơ lược về ngành thời trang và các khái niệm liên quan 1. Thời trang nhanh “Fast Fashion” hay “Thời trang nhanh” được tiên phong bởi doanh nhân người Tây Ban Nha “Amancio Ortega Gaona” và các công ty Zara và Inditex (Industria de Diseno Textil) của ông ở Galicia, Tây Ban Nha.
Inditex mô tả mô hình kinh doanh của mình là “sự sáng tạo và thiết kế chất lượng cùng với việc đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thị trường" và “dân chủ hóa thời trang" [1]. Doanh dân người Tây Ban Nha cho rằng tần suất tương tác của thương hiệu tới khách hàng quan trọng hơn tính lâu dài của sản phẩm. Vậy nên, ông đã đi ngược lại với ngành thời trang truyền thống, từ bỏ các bộ sưu tập theo mùa được sản xuất có quy luật bởi nhà thiết kế nổi tiếng, Inditex và Zara liên tục sản xuất và phân phối các sản phẩm thời trang mới trong thời gian ngắn với mức giá phù hợp. Phương thức này hiệu quả trong việc thu hút khách hàng và kích thích tiêu dùng nhờ múc giá thấp nhưng luôn đổi mới sản phẩm, “những khách hàng đi vào cửa hàng Zara và nhìn thấy thứ gì đó họ thích, họ biết rằng họ phải mua nó ngay lập tức, bởi vì nó có lẽ sẽ không còn ở đó trong lần tiếp theo" (Carlos Herreros de las Cuevas).
Từ sự thành công của Inditex, ngày càng nhiều doanh nghiệp trên thế giới kinh doanh theo mô hình này khiến cho xu hướng thời trang nhanh bùng nổ nhanh chóng. Vẫn giữ nguyên tiêu chí “đẹp - rẻ", những bộ trang phục với thiết kế được sao chép nguyên bản từ các thương hiệu nổi tiếng hoặc những sản phẩm trình diễn trong các buổi diễn thời trang lớn, hướng đến đối tượng khách hàng trẻ, luôn muốn sở hữu những mẫu thời trang cao cấp và theo kịp xu hướng với mức giá thấp. Ngành thời trang nhanh mang lại không ít lợi nhuận về kinh tế cho doanh nghiệp và xã hội, tuy nhiên, sự bùng nổ của ngành công nghiệp này gây thiệt hại nặng nề tới môi trường, bởi phần lớn những bộ quần áo theo phong trào ấy đều nhanh chóng bị bỏ đi vì chất lượng kém và không còn hợp thời nữa. Thời trang bền vững Thuật ngữ “Eco-Fashion” hay “Thời trang bền vững" được sử dụng phổ biến trên các phương tiện truyền thông trong nhiều năm gần đây, hướng người tiêu dùng tới 9 một lối sống bền vững hơn sau những thiệt hại về chất lượng môi trường do thời trang nhanh.
“Eco-Fashion" là một phần của “Eco-Products" hay “Sản phẩm sinh thái", là những sản phẩm ít gây hại cho con người và môi trường, chúng được liên kết với các thuật ngữ khác nhau như sản phẩm xanh, đạo đức, tự nhiên, hữu cơ và bền vững (Bennie, Gazibara, & Murray, 2010). Thời trang bền vững được định nghĩa là quần áo được thiết kế và sản xuất nhằm tối đa hóa lợi ích cho con người và xã hội đồng thời giảm thiểu tác động xấu đến môi trường (Joergens, 2006; Claudio, 2007; Ochoa). , 2011) Thời trang bền vững là một chiến lược mở rộng thương hiệu mà ngành công nghiệp thời trang sử dụng để giảm thiểu các vấn đề về môi trường và xã hội, nâng cao danh tiếng xã hội và duy trì lợi nhuận cao (Choi, Liu, Tang, & Yu, 2011) Nhìn chung, thuật ngữ “thời trang bền vững” chỉ những sản phẩm thời trang có nguồn gốc tự nhiên, nguyên vật liệu thân thiện với môi trường và đề cao trách nhiệm về mặt sinh thái. Tiêu chí bền vững hoặc sinh thái cũng được đưa vào trong định hướng thiết kế, nhằm mục đích kiểm soát tác động tới môi trường đồng thời đảm bảo sự đa dạng của thời trang, đáp ứng nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng về thời trang.
Ngành thời trang và ảnh hưởng tới môi trường 2. Ngành thời trang tiêu thụ lượng nước lớn Ngành công nghiệp thời trang là một trong những ngành gây ô nhiễm nhất trên thế giới. Nó sử dụng một lượng lớn năng lượng và nước và tạo ra tới 10% lượng khí thải CO2 toàn cầu (Dr. Ngành công nghiệp thời trang sử dụng một lượng lớn nước, tổng cộng 79 tỷ mét khối vào năm 2015 và trung bình ước tính khoảng 200 tấn nước sử dụng trong quá trình sản xuất một tấn hàng dệt.
Hầu hết việc sử dụng nước toàn cầu của thời trang gắn liền với bông trồng trọt và các quy trình ướt của sản xuất hàng dệt (tẩy, nhuộm, in và hoàn thiện). Hiện hành sản xuất dệt may ước tính sử dụng khoảng 44 nghìn tỷ lít nước hàng năm cho tưới tiêu, 95% trong số đó liên quan đến sản xuất bông, bởi bông có đặc tính thấm hút nước và tiêu thụ thuốc trừ sâu nhiều nhất trong các loại sợi. Thực tế, ngành dệt may có tới hơn 90% sản phẩm được tạo thành từ vải 10 polyester hoặc vải cotton được dệt từ bông. Chẳng hạn như hai sản phẩm thời trang thông dụng nhất là áo phông và quần jean, lượng nước tiêu thụ cho việc trồng bông là 88% và 92% trong cả quá trình sản xuất.
Bên cạnh tình trạng khan hiếm nước trầm trọng, ngành công nghiệp thời trang ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước ở địa phương từ việc thải bỏ các chất thải hóa học. Một số hóa chất được sử dụng trong quá trình sản xuất là nước thải độc hại, được xử lý không đúng cách đi vào nước ngầm địa phương có thể làm suy giảm toàn bộ hệ sinh thái. Trong toàn bộ khâu sản xuất, công đoạn nhuộm và xử lý vải thải ra khoảng 20% lượng nước thải trên thế giới, trong đó bao gồm những nguồn thải chưa qua xử lý dẫn đến hậu quả không chỉ ô nhiễm nguồn nước trầm trọng mà còn là nguyên nhân gây ra các bệnh ở người và động vật sử dụng nguồn nước lẫn chất độc và kim loại nặng. Càng nghiêm trọng hơn khi các loại vi nhựa có trong cả polyester và nylon đang dần dần xâm nhập vào nguồn thức ăn của con người thông qua hệ thống nguồn nước, một vấn đề hiện chưa lường trước được hậu quả.
Ngành thời trang thải ra lượng chất thải dệt may lớn Xu hướng “Thời trang nhanh" khiến cho người tiêu dùng tin rằng quần áo là sản phẩm dùng một lần vì tốc độ đổi mới mẫu mã thời trang và mức giá dễ chịu của chúng nằm trong khả năng chi trả của hầu hết mọi tín đồ thời trang. Những bộ trang phục thời thượng hơn ngay lập tức thay thế các món đồ cũ đã bị thải bỏ ra môi trường, quá trình này liên tục lặp lại trong nhiều năm. Các bãi thải, bãi chôn lấp nhanh chóng được lấp đầy, lò đốt rác thải cũng hoạt động hết công suất bởi những sản phẩm thời trang nhanh đều được tạo thành từ những chất liệu phải mất hàng thế kỷ mới có thể tự phân hủy. Gần 60% trong số ~ 150 tỷ sản phẩm may mặc được sản xuất trên toàn cầu vào năm 2012 (ref.
75) đã bị loại bỏ trong vài năm sau khi sản xuất. Quá trình quay vòng từ tiêu thụ thành chất thải sau sản xuất diễn ra nhanh chóng - việc sử dụng cuộc sống của ba loại hàng may mặc (áo phông, áo sơ mi có cổ đan và quần dệt thoi) ở sáu quốc gia Trung Quốc, Đức, Ý, Nhật Bản, Anh và Mỹ chỉ đạt trung bình từ 3.1 đến 3,5 năm cho mỗi quần áo, mặc dù có sự thay đổi đáng kể giữa các quốc gia. Thời gian sử dụng hàng may mặc ngắn, cùng với mức tiêu thụ tăng đã dẫn đến mức tăng 40% trong chất thải dệt chôn lấp ở Hoa Kỳ từ năm 1999 11 đến 2009, và trên toàn cầu, hàng dệt may chiếm tới 22% rác hỗn hợp trên toàn thế giới. Năm 2015, 73% chất thải được chôn lấp vào cuối vòng đời của chúng.
Mỗi bình quân đầu người, cả Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đều lãng phí 30kg hàng dệt mỗi người hàng năm, nước Úc thải bỏ 27kg mỗi năm và nhiều hơn ở Phần Lan 13kg và Đan Mạch 16kg. Lượng chất thải khổng lồ từ ngành may mặc không chỉ đến từ việc thải bỏ sản phẩm đã sử dụng, mà phế liệu dệt may trước khi tiêu dùng cũng chiếm phần không nhỏ. Chất thải trước khi tiêu dùng trong ngành thời trang thải ra trong quá trình sản xuất hàng dệt và may mặc, và bao gồm xơ, sợi và sự lãng phí tài nguyên lớn nhất là phế liệu vải. Một nghiên cứu ước tính rằng 15% vải dùng trong sản xuất hàng may mặc bị lãng phí, tùy thuộc vào mẫu mã, kích cỡ hay các phân loại khác của sản phẩm.
Chất thải vải được tạo ra trong quá trình cắt giai đoạn xây dựng hàng may mặc và bị ảnh hưởng bởi cách thiết kế để vừa vặn trên vải và thiết kế hàng may mặc nói chung. Hơn nữa, những sai lầm trong khâu lắp ráp hàng may mặc khiến hàng may mặc bị lãng phí. Ngành thời trang nhanh thải ra lượng khí Cacbon lớn Giai đoạn xu hướng “Thời trang nhanh" bùng nổ cũng là khoảng thời gian thế giới khủng hoảng bởi sự biến đổi khí hậu từ hiệu ứng nhà kính, bởi lượng lớn carbon thải ra từ ngành công nghiệp dệt may chỉ sau ngành dầu khí. Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu tuyên bố rằng ngành dệt may gây ra 10% lượng nhà kính toàn cầu khí thải.
Khí thải cacbon không chỉ đến từ quá trình sản xuất, một nghiên cứu về tiêu thụ hàng dệt may của Thụy Điển nhận thấy rằng giai đoạn sử dụng có thể đóng góp 14% tổng tác động khí hậu của việc tiêu thụ quần áo. Họ ước tính sản lượng toàn cầu là 2,9 Gigatonnes CO2 phát thải tương đương, hai phần ba trong số đó đến từ các vật liệu tổng hợp trong quá trình sản xuất sợi, dệt sản xuất và may mặc xây dựng. Lượng phát thải carbon cao của ngành công nghiệp thời trang đến từ việc sử dụng nhiều năng lượng và bị ảnh hưởng bởi nguồn năng lượng được sử dụng. Trong vòng đời sản phẩm may mặc, việc sử dụng năng lượng và phát thải CO2 là cao nhất trong quá trình chiết xuất sợi ban đầu, đặc biệt là đối với sợi tổng hợp, chẳng hạn như 12 acrylics, vì chúng có nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch.
Ngoài loại sợi, phương pháp sản xuất ảnh hưởng đến việc sử dụng năng lượng và tác động đến khí hậu, như đã nêu rõ bằng các phương thức sản xuất bông khác nhau. Phương pháp trồng bông thông thường có thể phát thải gấp 3,5 lần CO2 hơn trồng bông hữu cơ, tuy nhiên, canh tác hữu cơ có thể cần nhiều nước hơn so với canh tác thông thường, dẫn đến sự hạn chế đối với việc sử dụng bông hữu cơ.