Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận cơ bản về thị hiếu và ảnh hưởng của thị hiếu tiêu dùng tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của thị hiếu tiêu dùng tới xuất khẩu sản phẩm quà tặng in theo yêu cầu của Công ty TNHH Thương mại quốc tế TNG ở thị trường Mỹ Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu sản phẩm quà tặng in theo yêu cầu sang thị trường Mỹ của Công ty TNHH Thương mại quốc tế TNG 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ HIẾU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỊ HIẾU TIÊU DÙNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động đưa hàng hóa ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hóa khác có giá trị tương đương (Belay S. Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa.
Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh với phạm vi vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc là hoạt động buôn bán của một nước với nước khác trên phạm vi quốc tế (Nguyễn Văn Tuấn, 2008). Đây không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là cả hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm thúc đẩy hàng hóa phát triển ổn định đem lại lợi ích cho quốc gia. Ngô Thị Mỹ & Trần Nhuận Kiên (2016) cho rằng hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia.
Luật thương mại Việt Nam năm 2019 định nghĩa về hoạt động xuất khẩu hàng hóa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Ở một công trình nghiên cứu khác gần đây thì xuất khẩu được định nghĩa là “hoạt động bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia.” (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010) Như vậy, tổng hợp lại từ các khái niệm trên, có thể hiểu xuất khẩu là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ 13 làm môi giới, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước nhằm mục đích kinh tế tối đa. Xuất khẩu thể hiện sự gắn bó với nhau giữa nền kinh tế quốc dân với nền kinh tế thế giới. Đặc điểm của xuất khẩu Về đối tượng, học thuyết “Lợi thế so sánh” của Ricardo đã chỉ ra rằng, thương mại sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia.
Lý do là bởi mỗi quốc gia có lợi thế so sánh về một loại hàng hóa, mỗi quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất mặt hàng này nhưng lại không có lợi thế sản xuất mặt hàng khác. Do đó, mỗi nước sẽ chuyên môn sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mình có lợi thế. Về thị trường, hoạt động xuất khẩu có thị trường rộng lớn cả trong và ngoài nước và chịu sự ảnh hưởng lớn của sản xuất trong nước và nước ngoài. Do người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau nên thị hiếu, phong tục, thói quen tiêu dùng, chính sách thương mại cũng khác nhau.
Ngoài ra, phương tiện thanh toán của hai quốc gia cũng khác nhau, vì vậy hoạt động xuất khẩu cũng chịu tác động của việc chênh lệch tỷ giá hối đoái. Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như chiến tranh, chính trị, kinh tế, dịch bệnh, mối quan hệ giữa các quốc gia,… Do đó xuất nhập khẩu có thể đem lại nhiều lợi ích nhưng nó cũng tồn tại nhiều rủi ro. Khi nền kinh tế của một đất nước không ổn định, chịu tác động xấu từ các vấn đề trên sẽ khiến hoạt động sản xuất và xuất khẩu của nước đó gặp nhiều cản trở như giá thành nguyên vật liệu tăng cao khiến chi phí sản xuất tăng cao, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm đáng kể. Ngược lại với nước nhập khẩu, khi nền kinh tế suy thoái, nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm xuống dẫn đến xuất khẩu của các công ty nước ngoài sang nước này tụt giảm.
Xuất khẩu đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, giúp tạo nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thương mại và thúc đẩy sản xuất trong nước. Qua việc đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, cải tiến công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, từ đó tạo thêm việc làm và tăng thu nhập. Xuất khẩu còn mở ra cơ hội hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, giúp quốc gia tiếp cận các chuỗi cung ứng quốc tế, nâng cao vị thế và mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều nước. Vai trò của xuất khẩu 2.
Đối với doanh nghiệp sản xuất Hoạt động ngoại thương là hoạt động nhằm khai thác những lợi thế và khắc phục những bất lợi trong cơ cấu nền kinh tế. Hoạt động ngoại thương bao gồm hoạt động xuất khẩu và hoạt động nhập khẩu trong đó xuất khẩu là nhân tố có tác động đến lớn đối với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế của quốc gia. Một số tác động chính đối với nền kinh tế Việt Nam được cụ thể hoá như sau: Thứ nhất, xuất khẩu giúp làm tăng quy mô nền kinh tế. Nếu xuất khẩu là đem các hàng hoá và dịch vụ dư thừa hoặc là có lợi thế hơn để bán cho các nước khác thì nhập khẩu là mua hàng hoá và dịch vụ từ các quốc gia khác để khắc phục những yếu kém trong khoa học, công nghệ, quản lý,.
hay là đáp ứng nhu cầu mà nền kinh tế trong nước không đáp ứng được. Hai hoạt động này hỗ trợ nhau để cùng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia. Thứ hai, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Xuất khẩu đem lại nguồn thu cho quốc gia và cho doanh nghiệp.
Đây là nguồn vốn quan trọng để tái đầu tư vào các lĩnh vực khác đặc biệt là nhập khẩu, vì ở các nước đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam nhu cầu nhập khẩu máy móc và thiết bị lớn nên nhu cầu về vốn lớn. Mà xuất khẩu mang lại nguồn vốn sở hữu cho quốc gia nên hạn chế sự phụ thuộc vào các khoản đầu tư của nước ngoài để có thể nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tế. Thứ ba, xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ. Nguồn ngoại tệ thu về lớn hơn (cán cân thanh toán thặng dư) là điều kiện để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái theo hướng có lợi cho xuất khẩu nhưng lại không tổn hao đến nhập khẩu vì vậy sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế.
Thứ tư, xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn, việc làm. Hoạt động xuất khẩu càng được đẩy mạnh và không ngừng phát triển về quy mô thì sẽ càng thu hút nhiều lao động, tức là xuất khẩu đã tạo việc làm cho người lao động giúp người lao động có thu nhập và nâng cao đời sống. Thứ năm, xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại kinh tế của đất nước. Khi có hoạt động xuất khẩu thì các nước sẽ có quan hệ với nhau trên cơ 15 sở các bên đều có lợi.
Do vậy các quốc gia sẽ xây dựng các quan hệ kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động này. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, xuất khẩu là một trong các hình thức kinh doanh quốc tế. Với hình thức xuất khẩu này đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam những lợi ích cơ bản sau: Thứ nhất, hoạt động xuất khẩu làm tăng doanh số bán hàng của Việt Nam. Khi thị trường trong nước trở nên bão hòa thì xuất khẩu là hoạt động làm tăng doanh số bán hàng của Việt Nam khi mở rộng thị trường quốc tế.
Thứ hai, Việt Nam có thể đa dạng hóa thị trường đầu ra thông qua xuất khẩu. Đa dạng hóa thị trường đầu ra sẽ giúp cho Việt Nam có thể ổn định luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp. Việc đa dạng hóa thị trường sẽ tạo ra nguồn thu cho Việt Nam và từ nguồn thu này Việt Nam có thể đầu tư tiếp để tiếp tục đa dạng hóa thị trường tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường nào đó hay tạo điều kiện và thuận lợi cho thị trường đầu vào của doanh nghiệp. Thứ ba, doanh nghiệp có thêm kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường quốc tế.
Khi tham gia kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh và các nhà quản lý Việt Nam sẽ phải đối mặt với những khác biệt về văn hóa, tập quán, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau. Điều này đòi hỏi sự nhạy bén, tìm tòi, học hỏi để có thể bắt kịp và phản ứng nhanh trong mọi hoàn cảnh để dành ưu thế, khẳng định thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường. Qua đó họ sẽ tích lũy được kinh nghiệm và kiến thức qua quá trình kinh doanh quốc tế, nhất là khi xuất khẩu là hoạt động mang lại kinh nghiệm với chi phí và rủi ro thấp nhất. Các hình thức xuất khẩu 2.
Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà bên mua và bên bán trực tiếp thỏa thuận, thương lượng, trao đổi về quyền lợi của mỗi bên phù hợp với pháp luật của quốc gia các bên cùng tham gia ký kết hợp đồng. Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu độc lập của một doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng chính sách luật pháp của Nhà nước cũng như quốc tế.